Chương I Lý luận chung về quản lý tín dụng của ngân hàng thương mại Chương II Phương pháp và thiết kế nghiên cứu Chương III Thực trạng quản lý tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, Chi nhánh Tây Nam Hà Nội Chương IV Giải pháp và đề xuất nhằm nâng cao hoạt động quản lý tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội – Chi nhánh Tây Nam Hà Nộ 3 z CHƢƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Tính đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu được công bố liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận văn. Trên cơ sở kết quả của các công trình nghiên cứu đó là nền tảng cho hướng nghiên cứu của luận văn của tác giá. Tác giả Đỗ Thị Thủy trong “Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng trong điều kiện mới” (2007), công trình nghiên cứu khoa học, Học viện tài chính, Hà Nội đã cho thấy tác động của hệ thống pháp luật tới điều chỉnh hoạt động tín dụng của NHTM.
Tác giả đã kiến nghị các TCTD tại Việt Nam phải thực hiện giám sát an toàn hoạt động ngân hàng theo hướng minh bạch, hiện đại và phù hợp với thông lệ quốc tế, từ đó có thể tận dụng lợi thế của TCTD trong nước trước những đối thủ ngân hàng nước ngoài trong quá trình thực hiện các cam kết mở cửa thị trường ngân hàng. Tác giả Nguyễn Hữu Huấn trong “ Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Ngân hàng, Hà Nội đã làm rõ những hạn chế của yếu của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt Nam như: hiệu quả hoạt động kinh doanh chưa cao, cạnh tranh của dịch vụ, sản phẩm còn thấp… Tác giả Nguyễn Trí Tâm trong “Nâng cao hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn vùng Đồng bằng Sông Cửu Long” (2003) Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Ngân hàng, Hà Nội đã tập trung vào chất lượng hiệu quả của hoạt động tín dụng trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn. Luận án đã làm rõ những đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng của 4 z tín dụng đối với giai đoạn phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước ta. Tác giả đã khẳng định tín dụng là đòn bảy, là công cụ quan trọng để triển khai tốt các chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước.
Qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đã giúp tác giả có cái nhìn tổng quan về hoạt động tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào các vấn đề về lý luận, phạm vi nghiên cứu rộng, chưa nghiên cứu ở góc độ của chi nhánh, và đặc biệt chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể về SHB – CN Tây Nam Hà Nội. Do bối cảnh sau sát nhập của SHB từ sau năm 2012, do tồn đọng nợ xấu chưa được xử lý, vì vậy cần có nghiên cứu chi tiết, cụ thể về hoạt động quản lý tín dụng tại SHB – CN Tây Nam Hà Nội để từ đó đưa ra một số giải pháp chính để cải thiện hoạt động quản lý tín dụng tại chi nhánh được tốt hơn. Ngân Hàng Thƣơng Mại Trong Nền Kinh Tế Thị Trƣờng NHTM là một trong những định chế tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế.
Với các chức năng là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và tạo tiền, ngân hàng bảo đảm cho luồng vốn chu chuyển linh hoạt và hiệu quả từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Chính vì vậy hiện nay, dù ở một nền kinh tế phát triển hay đang phát triển, ngân hàng đã trở thành một chủ thể kinh tế thường xuyên được quan tâm và nhắc đến. Khái quát về ngân hàng thương mại Theo Luật Các tổ chức tín dụng do Quốc hội ban hành năm 2010, NHTM được định nghĩa rõ ràng: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trong đó, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc 5 z một số các nghiệp vụ nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Tuy các cách hiểu này khác nhau về ngôn từ, diễn đạt và một số nội dung, song về cơ bản đều phản ánh hoạt động của NHTM là kinh doanh tiền tệ – tín dụng, dịch vụ ngân nghiệp kinh doanh tiền tệ – tín dụng với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân. Chức năng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường Có thể thấy NHTM đã và đang đóng vai trò rất to lớn đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia cũng như quốc tế thông qua chặng đường phát triển của nó.Bắt đầu từ những xưởng đúc tiền của các thợ vàng, ngân hàng giờ đây đã trở thành chiếc bơm không thể thiếu cho một nền kinh tế năng động, mạnh mẽ.Điều này được thể hiện rõ qua 3 chức năng cơ bản của NHTM.1: Các chức năng của NHTM Chức năng trung gian tín dụng Chức năng Chức năng trung gian tạo tiền thanh toán Nguc chức năng của NHTM 2007. Ngân hàng thương mại. Hà Nội: N Đại h c Kinh tế Quốc dân 6 z 1.1 Chức năng trung gian tín dụng Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người dư thừa vốn và người có nhu cầu về vốn.Thông qua việc huy động các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế bằng nhiều hình thức, NHTM hình thành quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế.2: Chức năng trung gian tín dụng của NHTM Ngân Cá nhân Gửi tiền & Cá nhân hàng Cho vay & & Doanh Ủy thác đầu & Doanh thƣơng Đầu tư nghiệp tư nghiệp mại Nguồn năng trung gian tín dụng của NHTMàng thương mại.
Hà Nội: N Đại h c Kinh tế Quốc dân Cũng với chức năng này, ngân hàng góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia, bao gồm người gửi tiền, ngân hàng, người đi vay, đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Ngân hàng đã biến vốn tạm thời nhàn rỗi chưa tham gia hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, đồng thời cũng là cơ sở để thực hiện các chức năng khác.2 Chức năng trung gian thanh toán NHTM làm trung gian thanh toán khi thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng. Ở đây, ngân hàng giữ vai trò như thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tài khoản và thực hiện các lệnh thu chi của khách hàng.
Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế - xã hội. NHTM cung ứng cho khách hàng nhiều phương tiện 7 z thanh toán thuận lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Các chủ thể kinh tế không cần giữ, mang và thanh toán, chi trả cho khách hàng bằng tiền mặt. Do đó, sẽ tiết kiệm được chi phí, thời gian và đảm bảo được thanh toán an toàn. Đồng thời, thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản tiền… góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
Đối với NHTM, chức năng này lại góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán, tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư Có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng.3 Chức năng tạo tiền Khi hệ thống ngân hàng được phân chia thành hai cấp thì ngân hàng trung ương là ngân hàng phát hành còn NHTM thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ - tín dụng.Với chức năng là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, NHTM có khả năng tạo ra tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM. Nguồn vốn NHTM huy động được thông qua hành vi cho vay bằng chuyển khoản đối với khách hàng của mình để thanh toán cho khách hàng của ngân hàng khác tạo nên số tiền gửi. Cứ như thế, số tiền này được vận hành qua nhiều NHTM sẽ làm cho nó lớn lên gấp nhiều lần số ban đầu. Mức mở rộng tiền gửi này chịu tác động của yếu tố tỉ lệ dự trữ bắt buộc.
Vậy quá trình tạo tiền trên chỉ có thể thực hiện được khi có sự tham gia của cả hệ thống ngân hàng chứ bản thân của một ngân hàng không thể tạo ra được.Tuy nhiên, nếu xét trên phương diện toàn thể hệ thống ngân hàng thì số tiền tiền gửi đó không rời khỏi hệ thống mà trở thành khoản dự trữ của một 8 z ngân hàng khác để ngân hàng này tạo ra các khoản cho vay mới, nhờ vậy quá trình tạo tiền lại tiếp tục. Sự kết hợp giữa chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh toán là cơ sở để NHTM thực hiện chức năng tạo tiền gửi thanh toán.Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ. Một khối lượng tín dụng mà NHTM cho vay ra làm tăng khả năng tạo tiền của NHTM, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng. Như vậy có thể thấy các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau.
Đồng thời khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng thanh toán và chức năng tạo tiền thì sẽ góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt động tín dụng.