Chương 1. Tống quan vấn đề nghiên cứu Chương 2. Quy trình nghiên cứu Chương 3. Kết quả nghiên cứu Chương 4.
Nghiên cứu một số giải pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu trong phát triển du lịch sinh thái VQG Cát Bà. 11 CHUONG 1: TONG QUAN VAN DE NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về biến déi khí hậu và du lich sinh thái 1. Biến doi khí hậu Theo báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu 2007 (IPCC.
“biến đổi khí hậu là sự bién đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biễn động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dai hơn. bién đổi khí hậu có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kinh làm thay đổi thành phân cấu tạo của khí quyển ” 1. Kịch bản biến đỗi khí hậu Theo báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu 2007 (IPCC “Kịch ban biến đổi khí hậu là bức tranh toàn cảnh của khí hậu trong tương lai dựa trên một tập hợp các mối quan hệ khí hậu, được xây dựng để sử dụng trong nghiên cứu những hậu quả của bién đổi khí hậu do con người gây ra và thường được dùng như la đầu vào cho các quy mô đánh giá tác động” 1. Đánh giá tác động của biến doi khí hậu Đánh giá tác động do biến đổi khí hậu là nghiên cứu xác định các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên môi trường và các hoạt động kinh tế xã hội của địa phương.
Ngoài các ảnh hưởng bat lợi còn có thé có các ảnh hưởng có lợi. Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu là cơ sở dé dé xuất các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu (Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường, 2011). Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu thường được thực hiện cho hai bối cảnh hiện tại và tương lai theo các kịch bản biến đổi khí hậu và các kịch bản phát triển kinh tế xã hội. Kết quả đánh giá tác động cần được cập nhật thường xuyên khi có thay đổi về kịch bản biến đổi khí hậu hoặc khi có 12 điều chỉnh định hướng phát triển của ngành hoặc địa phương.
Thông thường, đánh giá tổng thé cho toàn địa ban trước, trên cơ sở kết quả nhận được sẽ tiến hành các đánh giá chuyên sâu và cần có sự tham gia của các bên liên quan, nhất là cộng đồng địa phương. Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu cũng bao gồm việc xác định và đánh giá các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu. Vì các giải pháp thích ứng làm giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu, nên đánh giá các giải pháp thích ứng trở thành một bước công việc của đánh giá tác động do biến đổi khí hậu. Tác động của biến đổi khí hậu vì vậy có thé phân ra làm hai loại: các tác động khi không có các giải pháp thích ứng và các tác động khi có các giải pháp thích ứng.
Ứng phó với biến đổi khí hậu Theo báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu 2007 (IPCC), một số khái niệm về ứng phó với biến đổi khí hậu được đưa ra như sau: Ung phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu. Như vậy ứng phó với biến đổi khí hậu gồm hai hợp phần chính là thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ biến đổi khí hậu. Thích ứng (Adaptation) với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại. Kịch bản biến đối khí hậu là giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa Kinh tế - Xã hội, thu nhập bình quân đầu người (GDP), phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và 13 ¬ ey ne - ¬— ee ot mực nước biển dâng.
Lưu ý rằng, kịch bản biến đổi khí hậu khác với dự báo thời tiết và dự báo khí hậu là nó đưa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển và hành động. Biện pháp thích ứng/thích nghỉ với biến đổi khí hậu (Adaptation measures) là những hành động cụ thé thực hiện tại một địa điểm cụ thé ở một thời điểm cụ thể để giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu đang xảy ra hoặc có thé xảy ra. Ví dụ như cải thiện các tiêu chuẩn xây dựng của nhà chống bão để giảm thiểu sự tàn phá của bão trong những khu vực dự báo bão sẽ tăng về cường độ 1. Nước biển dâng Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão,.
Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thé cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác. Du lịch sinh thai (Ecotourism) Ngày nay, du lịch sinh thái đang dần trở thành loại hình du lịch ăn khách bậc nhất và cũng là chủ đề nóng trong các cuộc hội thảo về chiến lược và chính sách phát triển của ngành du lịch toàn quốc. Về cơ bản du lịch sinh thái là loại hình du lịch với những hoạt động có nhận thức mạnh mẽ về thiên nhiên và ý thức trách nhiệm đối với xã hội. Khái niệm du lịch sinh thái bắt đầu xuất hiện trên thế giới vào những năm nửa cuối thâp niên 70, đầu thập niên 80 của thế ki 20 và ngày càng trở thành xu hướng du lịch thu hút du khách bậc nhất, đặc biệt với điều kiện phát triển du lịch ở Việt Nam.
Tuy nhiên dù xuất hiện đã lâu nhưng định nghĩa về du lịch sinh thái vẫn chưa rõ ràng. Bản chất du lịch sinh thái là du lịch gắn liền với thiên nhiên với điều kiện tự nhiên của mỗi điểm đến. Vì vậy nói đến du lịch sinh thái người ta thường đề cập đến những khái niệm liên quan như 14 Du lịch có trách nhiệm (Responsible Travel), phát triển du lịch bền vững, bao tồn. Du lịch sinh thái thường được chia thành loại hình dịch vụ du lịch chính như : du lịch mạo hiểm, hoặc du lịch khám phá thiên nhiên, tìm hiểu đời sống cộng đồng.
Nhiều nhà khoa học trên các quốc gia đã nghiên cứu về du lịch sinh thai. Năm 1987, Hector Ceballos Cascurain — một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch sinh thái đã đưa ra định nghĩa đầu tiên về du lịch sinh thái như sau : "Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị thay đổi với những mục đích đặc biệt : nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang da va giá trị văn hóa được khám phá". Năm 1998, Hiệp hội du lịch sinh thái Hoa Kỳ cũng nhấn mạnh : " đu lịch sinh thái là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lich sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tinh trạng của hệ sinh thái. Đồng thời, ta có cơ hội dé phát triển kinh tế, bảo vệ nguôn tai nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương.
Ở Việt Nam, theo Luật Du lịch Việt Nam (2005) : " du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương, với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững." Ngoài ra, tổng cục Du Lịch Việt Nam, ESCAP, WVF, IUCN đã đưa ra định nghĩa về du lịch sinh thái : "du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”. Theo Bộ văn hóa thể thao và Du lịch: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương, có sự tham gia 15 của cộng đồng nhằm phát triển bền vững (Theo Điều 4, Chương I của Luật Du lịch)”. Thông thường du lịch sinh thái được thực hiện tại những nơi như Vườn quốc gia, Khu bảo tổn thiên nhiên. Vườn quốc gia là khu vực thiên nhiên được thành lập để bảo vệ lâu đài một hay nhiều hệ sinh thái.
Một trong những mục tiêu của Vườn quốc gia là phát triển du lịch sinh thái. Khu bảo tồn thiên nhiên là khu vực được bảo vệ với mục đích chủ yếu là bảo tồn nguồn gen động — thực vật. Day là nơi có thể tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học nhưng hạn chế hơn đối với hoạt động du lịch. Đặc diém của loại hình du lịch sinh thái Đến nay, mặc dù khái niệm về du lịch sinh thái vẫn chưa được thống nhất, hoàn chỉnh song từ những điểm chung trong các định nghĩa về du lịch sinh thái trên thế giới.
Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) đã đưa ra những đặc điểm cơ bản về du lịch sinh thái như sau: - Tất cả các loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, với mục tiêu chính của chuyến đi của khách du lịch là trân trọng tự nhiên cũng như văn hóa truyền thống lưu truyền tại khu vực tự nhiên đó. - _ Có các hoạt động động giáo dục và diễn giải các giá trị của tự nhiên và văn hóa bản địa. - _ Thông thường (nhưng không nhất thiết) hình thức du lịch được tô chức theo nhóm nhỏ, do các nhà kinh doanh du lịch chuyên môn về sinh thái thực hiện. Tại các điểm du lịch sinh thái, người trực tiếp cung cấp địch vụ du lịch thường là các doanh nghiệp nhỏ tại địa phương.
- Giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường tự nhiên và văn hóa — xã hội 16 - _ Hỗ trợ và duy trì những giá trị của thiên nhiên được khai thác cho phát triển du lịch sinh thái.