Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn biến phức tạp với sự gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan, nhiệt độ tăng cao và mực nước biển dâng. Tại Việt Nam, theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2008), quốc gia này nằm trong nhóm 5 nước chịu tác động nặng nề nhất; trong đó ngành du lịch được xác định là lĩnh vực kinh tế có tính nhạy cảm cao trước các dao động tự nhiên. Quần đảo Cát Bà, đặc biệt là Vườn quốc gia Cát Bà (huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng), là một trong những trung tâm đa dạng sinh học quan trọng, được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới vào năm 2004. Với địa hình karst ngập nước, hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới trên núi đá vôi diện tích 9.800 ha, cùng các kiểu rừng ngập nước nội địa (Ao Éch) và rạn san hô ven bờ, địa bàn này sở hữu tiềm năng phát triển du lịch sinh thái lớn.

Tuy nhiên, tài nguyên và hạ tầng du lịch nơi đây chịu áp lực từ các hiện tượng khí hậu cực đoan. Nghiên cứu của Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng cho thấy mực nước biển đo tại trạm Hải văn Hòn Dấu đã dâng khoảng 20 cm trong vòng 50 năm. Kịch bản của Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng dự báo đến cuối thế kỷ 21, mực nước biển khu vực Hải Phòng - Cát Bà có thể dâng từ 65 đến 100 cm, nhiệt độ bề mặt nước biển tăng 1,6 - 3,5°C. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Việt Nam học của tác giả Phạm Thị Kim Cúc tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Thực trạng tác động của biến đổi khí hậu đến du lịch sinh thái Vườn quốc gia Cát Bà như thế nào?
  2. Nguyên nhân tác động của biến đổi khí hậu đến du lịch sinh thái Vườn quốc gia Cát Bà là gì?
  3. Giải pháp gì để giúp giảm thiểu các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu trong phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc gia Cát Bà?

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là đánh giá thực trạng, nhận diện nguyên nhân và đề xuất các giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với hoạt động du lịch sinh thái tại địa bàn. Để đạt mục tiêu này, tác giả xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Khái quát tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Cát Bà.
  2. Xác định tác động tích cực và tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với cơ sở hạ tầng, hoạt động lưu trú, sản phẩm du lịch và tài nguyên sinh thái.
  3. Xây dựng các nhóm giải pháp phù hợp nhằm ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đối tượng nghiên cứu bao gồm: tài nguyên du lịch sinh thái (hạ tầng, cảnh quan, hệ sinh thái), hoạt động du lịch sinh thái, các biểu hiện và tác động hai mặt của biến đổi khí hậu tại Vườn quốc gia Cát Bà. Phạm vi không gian giới hạn tại Vườn quốc gia Cát Bà và địa bàn huyện Cát Hải. Phạm vi thời gian thu thập dữ liệu thứ cấp từ năm 2005 đến tháng 3/2017, kết hợp chuyến khảo sát thực địa từ ngày 02/05/2017 đến ngày 04/05/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng khung lý luận về biến đổi khí hậu và du lịch sinh thái dựa trên các nguồn tài liệu chuẩn mực:

  • Báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC, 2007) về khái niệm biến đổi khí hậu, kịch bản khí hậu, đánh giá tác động, thích ứng (Adaptation) và giảm nhẹ (Mitigation).
  • Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành (năm 2012).
  • Khái niệm du lịch sinh thái theo Hector Ceballos-Lascurain (1987), Hiệp hội Du lịch sinh thái Hoa Kỳ (1998), định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và quy định tại Điều 4 Chương I Luật Du lịch Việt Nam (2005).
  • Các nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái: quản lý sức chứa du lịch (sức chứa vật lý, sinh học, tâm lý, kinh tế), bảo tồn đa dạng sinh thái, chia sẻ lợi ích kinh tế với cộng đồng địa phương và nâng cao nhận thức môi trường.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp nghiên cứu lý thuyết liên ngành với điều tra xã hội học và khảo sát thực địa:

Phương pháp Quy trình thực hiện Nguồn dữ liệu / Quy mô mẫu
Nghiên cứu tài liệu Thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu chuyên ngành, báo cáo quản lý Niên giám thống kê Hải Phòng 2015; Báo cáo VQG Cát Bà 2016; Kịch bản BĐKH Bộ TN&MT 2012; các đề án quy hoạch huyện Cát Hải.
Khảo sát thực địa Quan sát hiện trạng cơ sở hạ tầng, mức độ xói lở, ngập úng (thực hiện từ 02/05 đến 04/05/2017) Ban quản lý VQG Cát Bà, xã Việt Hải, các tuyến đường mòn và điểm tham quan chính.
Điều tra xã hội học Phát phiếu điều tra có cấu trúc về nhận thức tác động và mức độ thiệt hại do thiên tai 40 phiếu điều tra phân bổ cho 4 nhóm: du khách, cộng đồng địa phương, doanh nghiệp du lịch, cấp quản lý.
Phỏng vấn sâu & Thảo luận nhóm Phỏng vấn trực tiếp, qua điện thoại/email (10 câu hỏi); thảo luận nhóm nhỏ 2 - 3 người Cán bộ Sở Du lịch Hải Phòng, Phòng VHTT Cát Hải, nhân viên VQG Cát Bà, doanh nghiệp lữ hành, dân cư xã Việt Hải.
Phân tích SWOT Nhận diện điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của du lịch sinh thái Dữ liệu tổng hợp từ thực địa và tài liệu thống kê.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này hệ thống hóa cơ sở lý luận về biến đổi khí hậu, nước biển dâng, các nguyên tắc du lịch sinh thái và đánh giá tác động qua lại giữa khí hậu và du lịch. Nghiên cứu phân tích nguyên nhân biến đổi khí hậu xuất phát từ hoạt động phát triển kinh tế làm gia tăng phát thải khí nhà kính (sản xuất điện năng 25,9%, công nghiệp 19,4%, lâm nghiệp 17,4%, nông nghiệp 13,5%, giao thông 13,1%). Tác giả trích dẫn số liệu quan trắc 50 năm của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường về diễn biến nhiệt độ và lượng mưa tại các vùng khí hậu Việt Nam:

Vùng khí hậu Tăng nhiệt độ trung bình năm (°C) Mức thay đổi lượng mưa năm (%) Thay đổi lượng mưa kỳ XI-IV (%) Thay đổi lượng mưa kỳ V-X (%)
Tây Bắc Bộ 1,4 0,5 6 -6
Đông Bắc Bộ 1,5 -9 0 -11
Đồng bằng Bắc Bộ 1,4 0,5 7 -13
Bắc Trung Bộ 1,3 0,5 4 -5
Nam Trung Bộ 0,6 0,5 20 9
Tây Nguyên 0,9 0,4 19 9
Nam Bộ 0,8 0,4 27 6

Về tác động đối với du lịch, chương 1 chỉ ra tác động hai mặt: mặt tích cực là gia tăng nhu cầu và kéo dài thời gian mùa du lịch biển ở miền Bắc; mặt tiêu cực là làm gia tăng chi phí duy tu công trình ven biển, sạt lở bãi tắm, thu hẹp sinh cảnh và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho du khách. Lịch sử nghiên cứu điểm qua các công trình của GS. Nguyễn Đức Ngữ, TS. Phạm Trung Lương (2002, 2007, 2015), Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (2009, 2012) và khẳng định đề tài tại Vườn quốc gia Cát Bà là hướng đi mới, giải quyết khoảng trống nghiên cứu cấp địa phương.

Chương 2: Quy trình nghiên cứu

Nội dung chương trình bày điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội địa bàn nghiên cứu và cách thức triển khai đề tài. Vườn quốc gia Cát Bà nằm tại tọa độ 20°44'55'' - 20°55'29'' vĩ Bắc, 106°54'20'' - 107°10'05'' kinh Đông, phần lớn thuộc xã Trân Châu và tiếp giáp vịnh Hạ Long. Địa hình gồm các dãy núi đá vôi dưới 500 m (chủ yếu 50 - 200 m), đỉnh cao nhất là Cao Vọng (322 m). Khí hậu trạm Hòn Dấu ghi nhận nhiệt độ trung bình năm 25 - 28°C; mùa hè (tháng 5-9) trên 30°C; mùa đông (tháng 10-4) dao động 14 - 16°C, có đợt xuống dưới 10°C. Lượng mưa trung bình 1.700 - 1.800 mm/năm, tập trung 80 - 90% vào mùa mưa. Mùa bão kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, trung bình 2,5 trận/năm, sức gió phổ biến cấp 8 - 10, có cơn đạt cấp 14. Chế độ thủy văn mang tính nhật triều điển hình, biên độ triều trung bình 2,6 m.

Về mặt xã hội, địa bàn Vườn quốc gia gồm xã Việt Hải (92 hộ, 365 nhân khẩu, 80% làm nông nghiệp và kinh doanh homestay) và khu trung tâm Ban quản lý (38 hộ, 170 nhân khẩu). Năm 2016, kinh tế huyện Cát Hải ghi nhận dịch vụ tăng 15%, đón hơn 1,7 triệu lượt khách, thu ngân sách trên 109 tỷ đồng. Hạ tầng kỹ thuật gồm các trục giao thông nối phà Gót (11 km), thị trấn Cát Bà (12 km), bến Gia Luận (7 km); hệ thống cấp nước từ 4 hồ (Xuân Đám, Khe Sâu, Trân Châu, Phù Long; riêng hồ Trân Châu trữ lượng hơn 450.000 m³); 2 trạm xử lý nước thải (Tùng Dinh và Tổ 7). Cơ sở lưu trú tại trung tâm Vườn có hơn 30 phòng, sức chứa 180 - 220 khách; nhà ăn diện tích 300 m² và nhà sàn Kim Giao. Chương này cũng giải trình chi tiết kỹ thuật chọn mẫu điều tra và phương pháp xử lý dữ liệu khảo sát.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 phản ánh thực trạng phát triển du lịch sinh thái và đánh giá tác động cụ thể của biến đổi khí hậu:

  • Hiện trạng hoạt động: Du lịch sinh thái VQG Cát Bà triển khai qua 3 loại hình: du lịch sinh thái rừng (tuyến Đỉnh Ngự Lâm, Ao Éch), du lịch sinh thái biển (vịnh Lan Hạ, rạn san hô) và du lịch cộng đồng tại xã Việt Hải. Lượng khách tham quan giai đoạn 2008 - 2016 duy trì đà tăng trưởng, tạo việc làm cho cư dân bản địa nhưng bộc lộ bất cập về chất lượng nguồn nhân lực và tính thời vụ.
  • Phân tích SWOT:
    • Điểm mạnh: Cảnh quan đặc sắc, danh hiệu Khu Dự trữ sinh quyển thế giới, tài nguyên động thực vật phong phú (quần hợp Kim Giao, voọc Cát Bà).
    • Điểm yếu: Hạ tầng lưu trú quy mô nhỏ, giao thông hải đảo phụ thuộc thời tiết, trình độ lao động địa phương còn thấp.
    • Cơ hội: Cầu Tân Vũ - Lạch Huyện hoàn thành, các dự án đầu tư du lịch lớn của Sun Group, cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng.
    • Thách thức: Áp lực quá tải rác thải, suy thoái hệ sinh thái san hô, rủi ro thiên tai cực đoan.
  • Đánh giá 5 nhóm tác động của biến đổi khí hậu:
    1. Bão và áp thấp nhiệt đới: Gây gián đoạn hoạt động tàu phà từ đất liền, sạt lở các tuyến đường mòn, đình trệ tour lữ hành và làm hư hỏng hạ tầng lưu trú.
    2. Lũ lụt: Mưa lớn cực đoan gây ngập cục bộ tại thung lũng xã Việt Hải, chia cắt giao thông bộ và gây xói lở tầng đất mặt rừng đặc dụng.
    3. Nhiệt độ tăng, hạn hán và thiếu nước: Làm cạn kiệt dòng chảy các suối ngầm (suối Treo Cơm mùa khô chỉ đạt 26 lít/giây, suối Trung Trang lưu lượng gần như bằng 0); gây thiếu nước ngọt sinh hoạt trầm trọng tại các cơ sở lưu trú vào mùa cao điểm hè.
    4. Nước biển dâng và triều cường: Thu hẹp không gian bãi triều, xâm nhập mặn nguồn nước ngầm vùng trũng, uy hiếp cầu cảng du lịch Bến Bèo và Gia Luận.
    5. Xói mòn, sạt lở bờ biển: Phá hủy bờ biển ven các đảo nhỏ, làm đục nước biển tầng mặt, ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái rạn san hô và hoạt động lặn biển ngắm san hô.

Chương 4: Nghiên cứu một số giải pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu trong phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc gia Cát Bà

Trên cơ sở phân tích thực trạng, chương 4 đề xuất hai nhóm giải pháp:

  • Nhóm giải pháp chung:
    • Nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu cho cán bộ quản lý, doanh nghiệp lữ hành và cư dân địa phương.
    • Xây dựng, kiên cố hóa cơ sở hạ tầng kỹ thuật du lịch có tính thích ứng cao trước bão lũ; bảo đảm tiêu chuẩn nhà chống bão ven biển.
    • Kiểm soát tài nguyên nước, sử dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, phân loại và xử lý triệt để rác thải sinh hoạt (đẩy nhanh tiến độ bãi chôn lấp rác Trà Trà).
    • Tăng cường bảo vệ diện tích rừng nguyên sinh 9.800 ha, giảm thiểu mất rừng và suy thoái rừng để bảo vệ khả năng hấp thụ carbon tự nhiên.
    • Đa dạng hóa sản phẩm du lịch để khắc phục tính thời vụ, giảm áp lực tập trung khách vào mùa hè.
  • Nhóm giải pháp cụ thể:
    • Đối với chính quyền địa phương và Ban quản lý VQG: Lập quy hoạch du lịch gắn với kịch bản nước biển dâng; thiết lập hệ thống cảnh báo sớm thiên tai; giám sát chặt chẽ sức chứa sinh thái tại các tuyến điểm Ao Éch, Đỉnh Ngự Lâm.
    • Đối với doanh nghiệp du lịch (khách sạn, lữ hành, nhà hàng): Chủ động phương án dự trữ nước ngọt sinh hoạt; trang bị thiết bị cứu hộ hàng hải đạt chuẩn; ký cam kết bảo vệ môi trường, không xả thải trực tiếp ra các vịnh biển.

Kết quả nghiên cứu và đóng góp

Nghiên cứu mang lại những kết quả và đóng góp thực tiễn cụ thể:

  • Hệ thống hóa số liệu thực địa: Khóa luận cung cấp tập số liệu chi tiết về hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật của Vườn quốc gia Cát Bà tính đến đầu năm 2017 (hệ thống giao thông, cấp nước, xử lý rác, cơ cấu phòng nghỉ, năng lực phục vụ ăn uống) gắn liền với dữ liệu thời tiết thực tế từ trạm Hòn Dấu.
  • Lượng hóa mức độ tổn thương: Thông qua điều tra 40 phiếu khảo sát và 10 câu hỏi phỏng vấn sâu, nghiên cứu phản ánh chân thực đánh giá của cộng đồng bản địa và doanh nghiệp về mức độ thiệt hại do bão, hạn hán và thiếu nước ngọt đối với doanh thu du lịch.
  • Đề xuất giải pháp thích ứng đồng bộ: Luận văn vạch ra khung hành động cụ thể cho cả cơ quan quản lý nhà nước lẫn khối doanh nghiệp tư nhân, tập trung vào việc bảo vệ nguồn nước ngầm, kiểm soát sức chứa sinh thái và điều chỉnh mùa vụ du lịch.
  • Đóng góp học thuật: Đề tài là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu dưới góc độ phát triển du lịch sinh thái tại một vườn quốc gia hải đảo đặc thù, bổ sung tư liệu nghiên cứu cho chuyên ngành Việt Nam học và quản lý tài nguyên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế: Quy mô mẫu khảo sát xã hội học còn khiêm tốn (40 phiếu điều tra) và thời gian khảo sát thực địa ngắn (từ ngày 02/05/2017 đến ngày 04/05/2017), do đó chưa phản ánh hết dao động ý kiến của du khách quốc tế theo các mùa khác nhau trong năm. Dữ liệu thứ cấp mới cập nhật đến tháng 3/2017.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng quy mô điều tra xã hội học với cỡ mẫu lớn hơn; nghiên cứu chuyên sâu về sức chứa sinh thái của từng điểm tham quan cụ thể (như vùng lõi Ao Éch, Đỉnh Ngự Lâm); xây dựng mô hình dự báo thiệt hại kinh tế định lượng cho các doanh nghiệp du lịch tại Cát Bà theo các kịch bản nước biển dâng chi tiết của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Giá trị tham khảo

Báo cáo nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Người học và nghiên cứu viên: Sinh viên các ngành Việt Nam học, Du lịch học, Khoa học Môi trường và Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên cần tìm kiếm khung phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa biến đổi khí hậu và kinh tế du lịch.
  • Cơ quan quản lý và doanh nghiệp địa phương: Ban quản lý Vườn quốc gia Cát Bà, UBND huyện Cát Hải và các doanh nghiệp dịch vụ lữ hành có thể khai thác các bảng số liệu về khí hậu, thủy văn, hệ thống hạ tầng và các nhóm giải pháp khắc phục tính mùa vụ được đề xuất trong chương 3 và chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận văn sử dụng dữ liệu khí hậu và kịch bản biến đổi khí hậu từ nguồn cơ quan nào?
Nghiên cứu sử dụng số liệu khí tượng thủy văn đo đạc tại trạm Hải văn Hòn Dấu, Báo cáo đề tài KC.13 (2010) của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, cùng Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành năm 2012.

2. Khảo sát thực địa của tác giả được tiến hành trong thời gian nào và cỡ mẫu điều tra là bao nhiêu?
Chuyến khảo sát thực địa được thực hiện từ ngày 02/05/2017 đến ngày 04/05/2017 tại VQG Cát Bà và huyện Cát Hải. Tác giả phát 40 bảng câu hỏi điều tra xã hội học chia đều cho 4 nhóm đối tượng (du khách, cộng đồng địa phương, doanh nghiệp du lịch, cơ quan quản lý) và sử dụng 10 câu hỏi phỏng vấn sâu.

3. Đặc điểm dân cư và kinh tế xã Việt Hải trong địa bàn nghiên cứu có gì đáng lưu ý?
Xã Việt Hải có 92 hộ dân với 365 nhân khẩu, trong đó 80% hộ gia đình làm nghề nông và nương rẫy. Cư dân sống dọc tuyến đường 1 km sát chân núi và những năm gần đây đã bắt đầu tham gia làm dịch vụ du lịch sinh thái cộng đồng (kinh doanh homestay, ăn uống, dẫn đường).

4. Yếu tố biến đổi khí hậu nào gây cản trở trực tiếp nhất đến việc vận chuyển khách đến Vườn quốc gia Cát Bà?
Hiện tượng bão và áp thấp nhiệt đới (trung bình 2,5 trận/năm, sức gió cấp 8 - 10) là yếu tố trực tiếp nhất khiến toàn bộ hệ thống phà biển (phà Đình Vũ, phà Gót) và tàu cao tốc từ đất liền ra đảo phải ngừng hoạt động, gây cô lập giao thông và hủy tour hàng loạt.

5. Luận văn đề xuất các doanh nghiệp du lịch tại Cát Bà cần thực hiện ngay giải pháp kỹ thuật nào?
Tác giả kiến nghị các doanh nghiệp du lịch (khách sạn, nhà hàng) chủ động đầu tư hệ thống bể chứa và thiết bị kiểm soát, tiết kiệm nước ngọt sinh hoạt để giải quyết tình trạng thiếu nước vào mùa hè, đồng thời nâng cấp cơ sở vật chất đạt tiêu chuẩn chống bão ven biển.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Kim Cúc đã phân tích toàn diện thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Cát Bà dưới lăng kính tác động của biến đổi khí hậu. Bằng việc kết hợp dữ liệu quan trắc trạm khí văn Hòn Dấu với kết quả điều tra thực địa 40 mẫu và phỏng vấn sâu, công trình làm rõ những tổn thương cụ thể về hạ tầng, tài nguyên nước và tính an toàn của các tuyến tour. Các giải pháp quản lý, quy hoạch hạ tầng và ứng phó thời vụ được đề xuất mang tính khả thi cao, góp phần định hướng phát triển bền vững cho du lịch sinh thái tại khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà.