Tổng quan luận án

Khu vực Bắc Trung Bộ trải dài từ vĩ độ 16°18'B đến 20°B, bao gồm 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, sở hữu đường bờ biển dài 642 km với 23 cửa sông đổ ra biển. Các vùng cửa sông ven biển (VCSVB) tại đây là không gian phân bố của nhiều đô thị, khu kinh tế, cơ sở hạ tầng giao thông và tuyến phòng thủ ven biển. Địa hình vùng cửa sông được hình thành và biến đổi liên tục dưới tác động tương hỗ giữa các quá trình nội sinh, ngoại sinh và nhân sinh trong bối cảnh biến đổi khí hậu cùng nước biển dâng. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là các công trình trước đây tại khu vực phần lớn mang tính khái quát, định tính ở tỷ lệ nhỏ, chưa làm sáng tỏ toàn diện cơ chế tương tác động lực sông - biển gắn với phân hóa không gian và lịch sử tiến hóa Đệ tứ, đồng thời thiếu các bản đồ địa mạo chi tiết thành lập theo nguyên tắc bề mặt đồng nguồn gốc và tuổi. Do đó, luận án "Đặc điểm biến động địa hình các vùng cửa sông ven biển Bắc Trung Bộ" được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu khoa học và thực tiễn nêu trên.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm hai nội dung chính:

  1. Làm sáng tỏ đặc điểm địa mạo ở các VCSVB Bắc Trung Bộ.
  2. Xác lập xu hướng biến động địa hình và quá trình địa mạo động lực ở các VCSVB Bắc Trung Bộ.

Để hoàn thành các mục tiêu trên, luận án thực hiện 8 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Thu thập, phân tích tổng hợp và xử lý các tài liệu, số liệu về địa mạo, địa chất, kiến tạo tại các VCSVB Bắc Trung Bộ.
  2. Thu thập, xử lý, phân tích và giải đoán ảnh viễn thám độ phân giải cao; xác lập các đơn vị địa mạo theo nguồn gốc hình thái, đặc điểm thạch học và cấu trúc tân kiến tạo.
  3. Khảo sát thực địa, đo vẽ chi tiết nhằm xác định nguồn gốc, đặc điểm hình thái và tuổi của các kiểu, dạng địa hình.
  4. Đánh giá vai trò của các yếu tố nội sinh, ngoại sinh và nhân sinh trong quá trình hình thành, biến động địa hình.
  5. Xây dựng bản đồ địa mạo theo nguyên tắc "Bề mặt đồng nguồn gốc và tuổi".
  6. Đánh giá các quá trình địa mạo động lực hiện đại (xói lở, bồi tụ) tại các VCSVB.
  7. Làm sáng tỏ đặc điểm địa mạo và xu hướng biến động địa hình của các VCSVB nghiên cứu.
  8. Đề xuất các khuyến nghị, giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên lãnh thổ các VCSVB Bắc Trung Bộ.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Địa hình và các quá trình địa mạo động lực hiện đại tại các VCSVB Bắc Trung Bộ.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào 3 VCSVB đại diện cho hai kiểu hình thái - động lực chính: VCSVB sông Mã đại diện cho kiểu châu thổ (Delta); VCSVB sông Thạch Hãn và VCSVB sông Hương đại diện cho kiểu vịnh cửa sông mài mòn - bồi tụ kín (Liman). Ranh giới nghiên cứu từ nơi dòng chính bắt đầu phân nhánh đến bãi triều thấp khi triều kiệt, tương ứng chiều sâu vào lục địa từ 15 km đến 22 km (sông Mã: 20-22 km; sông Thạch Hãn: khoảng 20 km; sông Hương: khoảng 15 km).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu biến động địa hình từ Đệ tứ muộn đến hiện đại qua 3 giai đoạn: cuối Pleistocen muộn - cuối Holocen giữa, cuối Holocen giữa - Holocen muộn, Holocen muộn - hiện đại; phân tích biến động đường bờ hiện đại giai đoạn 1965-2017 (sông Mã) và 1952-2017 (sông Thạch Hãn, sông Hương).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu cho thấy các VCSVB đã thu hút sự quan tâm của giới khoa học trong và ngoài nước qua nhiều thời kỳ:

  • Nghiên cứu trên thế giới: Từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, Cretner G. đã bước đầu phân loại hình thái cửa sông. Tiếp đó, Trekhovic P. nghiên cứu động lực dòng bùn cát; Zubov N. đánh giá các yếu tố hải văn. Zenkovich V.P. (1960-1962) đặt nền tảng phương pháp luận địa mạo bờ biển và phát triển châu thổ; Xamoilov I.V. (1952) hoàn thiện lý thuyết cửa sông; Simonov A.I., Alsyler V.F., Leontrev (1961), Kaplin, Makkavev N.I., Shwartz M.L. (1982) nghiên cứu tương tác động lực sông - biển, dao động mực nước đại dương và thủy thạch động lực. Giai đoạn cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI, các mô hình số trị thủy thạch động lực như DELFT 3D (Hà Lan), MECCA (Mỹ), MIKE (Đan Mạch) cùng công nghệ viễn thám và GIS được ứng dụng mạnh mẽ trong nghiên cứu địa mạo và cảnh báo tai biến: Marston (1995), Winterbottom S.J. (1998), Wadge (1995), Kervyn (2008), Grosse (2009), Xie (2004), Owen (2008), Marti và Felpeto (2010), O'Connor (2003), Hamilton (2006), Jean-Francois Desprats (2010).
  • Nghiên cứu tại Việt Nam và khu vực Bắc Trung Bộ: Hoạt động khai khẩn và đắp đê lấn biển đã diễn ra từ thời nhà Trần (1248) và thời Nguyễn với công cuộc khai hoang của Nguyễn Công Trứ (1828-1830). Về mặt khoa học hiện đại, các khảo sát vịnh Bắc Bộ năm 1960 cùng công trình của Zenkovich V.P. (1960) mở đầu cho nghiên cứu địa mạo bờ biển. Các chương trình điều tra biển 48B, KT03 cùng công trình của Lưu Tỳ (1969), Nguyễn Thanh Sơn (1979), Lê Đức An (1981), Trần Đức Thạnh (1985, 1993, 1996), Đỗ Văn Tự (1986), Nguyễn Hoàn (1986), Nguyễn Thế Tiệp (1990) đã phân loại kiểu bờ và hình thái dải ven biển. Sau năm 1990, các nghiên cứu địa mạo gắn với tai biến và quy hoạch lãnh thổ phát triển qua công trình của Lê Xuân Hồng (1996), Vũ Văn Phái (1996), Đặng Văn Bào (1996), Lại Huy Anh (2001), Uông Đình Khanh (2002), Nguyễn Địch Dỹ và Nguyễn Công Mẫn (1995), Hồ Vương Bính (1995, 1997), Trần Nghi (1996), Doãn Đình Lâm (2002), Vũ Quang Lân (1997, 2003), Nguyễn Tiến Hải (2003), Lê Đức An và nnk (2007), Vũ Thu Hoài (2010). Việc ứng dụng viễn thám và GIS để nghiên cứu biến động đường bờ được thực hiện bởi Tô Quang Thịnh (1990), Lê Phước Trình (2000), Nguyễn Văn Cư (1990, 1999, 2003), Phạm Huy Tiến (2001, 2005), Trịnh Việt An (2006), Vũ Tuấn Anh (2010), Bùi Thắng (2010), Trần Hữu Tuyên (2003), Phạm Văn Hùng (2008, 2009, 2016), Phạm Quang Sơn và nnk (2012).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình trước đây đã tích lũy khối lượng dữ liệu đáng kể, phần lớn nghiên cứu địa mạo dải ven biển Bắc Trung Bộ vẫn dừng ở mức độ định tính, sử dụng bản đồ tỷ lệ trung bình hoặc nhỏ, chưa đi sâu định lượng tốc độ xói lở - bồi tụ chi tiết cho từng thời đoạn lịch sử. Luận án tập trung xây dựng bản đồ địa mạo tỷ lệ lớn theo nguyên tắc "Bề mặt đồng nguồn gốc và tuổi", kết hợp giải đoán viễn thám đa thời gian với khảo sát thực địa để khôi phục các đường bờ cổ và xác lập bức tranh biến động đường bờ hiện đại có cơ sở định lượng rõ ràng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án kế thừa các khái niệm về vùng cửa sông của Cameron và Prichard (1963), Fairbridge (1980), Dalrymple (1992) và mô hình phân vùng cửa sông của Baidin gồm ba phần: đoạn gần cửa sông (A), đoạn cửa sông (B) và vùng biển nông trước cửa sông (C). Dựa trên tiêu chí tổng hợp địa chất - địa mạo và động lực học, 23 cửa sông Bắc Trung Bộ được phân loại thành hai nhóm chính: kiểu châu thổ (Delta) và kiểu Liman.

Tỉnh Tên sông Tên cửa sông
Thanh Hóa Lèn Cửa Lạch Sung
Thanh Hóa Tào Xuyên Cửa Lạch Trường
Thanh Hóa Mã Cửa Hới
Thanh Hóa Yên Cửa Lạch Ghép
Thanh Hóa Khê Dứa Lạch Bạng
Nghệ An Hoàng Mai Cửa Trập (Cửa Cờn)
Nghệ An Độ Ông (sông Hầu) Cửa Lạch Quèn
Nghệ An Dừa Cửa Thới
Nghệ An Bùng Cửa Vạn
Nghệ An Cửa Lò Cửa Lò
Nghệ An Cả Cửa Hội
Hà Tĩnh Hạ Vàng Cửa Sót
Hà Tĩnh Rác Cửa Nhượng
Hà Tĩnh Kinh Cửa Khẩu
Quảng Bình Ròn Cửa Ròn
Quảng Bình Gianh Cửa Gianh
Quảng Bình Lý Hoà Cửa Lý Hoà
Quảng Bình Định Cửa Doanh
Quảng Bình Kiến Giang Cửa Nhật Lệ
Quảng Trị Bến Hải Cửa Tùng
Quảng Trị Thạch Hãn + Ô Lâu Cửa Việt
Thừa Thiên Huế Sông Hương Đầm Thanh Lam (Cửa Thuận An)
Thừa Thiên Huế Nông + Truồi Vụng Cầu Hai (Cửa Tư Hiền)

Cơ sở địa chất, tân kiến tạo và dao động mực nước biển:

  • Các phân vị địa tầng đá gốc và phun trào: Hệ tầng Nậm Cô ($MP_1 nc$), Hệ tầng sông Mã ($1 sm$), Hệ tầng Hàm Rồng ($3-O_1 hr$), Hệ tầng Đông Sơn ($O_1 đs$), Hệ tầng Sông Cả ($O_3-S sc$), Hệ tầng Rào Chan ($D_1 rc$), Hệ tầng Tân Lâm ($D_{1-2} tl$), Hệ tầng Mục Bài ($D_2g mb$), Hệ tầng Bản Giàng ($D_2e bg$), Hệ tầng Đồng Trầu ($T_2a đt$), Hệ tầng Đồng Đỏ ($T_3n-r đđ$), Hệ tầng Đồng Hới ($N đh$), bazan Holocen ($Q_2$). Magma xâm nhập gồm phức hệ Hải Vân ($aT_3 hv$) và Phia Bioc ($aT_3 pb$).
  • Trầm tích Đệ tứ: Hệ tầng Hoằng Hóa ($aQ_1^1 hh$), Tân Mỹ ($amQ_1^1 tm$), Triệu Sơn ($a, apQ_1^{2-3} ts$), Lệ Ninh ($mQ_1^{2-3} ln$), Quảng Điền ($amQ_1^{2-3} qđ$), Phú Xuân ($ap,mQ_1^3 px$), Thiệu Hóa ($amQ_2^{1-2} th$), Can Lộc ($amQ_2^{1-2} cl$), Phú Bài ($bmQ_2^{1-2} pb$), Yên Mỹ ($amQ_2^{2-3} ym$), Phú Vang ($abmQ_2^{2-3} pv$) và các trầm tích Holocen muộn ($Q_2^3$).
  • Kiến tạo và đứt gãy: Vùng nghiên cứu gồm các khối nâng yếu dạng khối tảng (Thanh Hóa, Tân Kỳ, Đèo Ngang, Kẻ Bàng, Vĩnh Ô, Đakrông, Nam Đông) và các khối hạ lún yếu (Vinh - Hà Tĩnh, Đồng Hới, Quảng Trị - Huế). Các đới đứt gãy chính phương TB-ĐN gồm Sơn La - Bỉm Sơn, Sông Mã, Sông Cả, Rào Nậy, Khe Giữa - Vĩnh Linh, Sông Quảng Trị, Đắk Krông - Huế, Thà Khẹt - Hải Vân cùng đới phương ĐB-TN Hoằng Hóa - Nông Cống.
  • Dao động mực nước biển Holocen: Cực đại băng hà cuối cùng (20.000 năm BP) mực nước biển hạ thấp khoảng 120 m. Mực nước dâng nhanh đến khoảng 7.000 năm BP đạt mức xấp xỉ hiện nay, dâng cao cực đại trong khoảng 6.500-4.000 năm BP (biển tiến Flandrian tạo thềm 4-5 m), sau đó hạ dần từ 4.000 năm BP đến nay.

Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu: Luận án vận dụng 5 cách tiếp cận: tiếp cận hệ thống, tiếp cận lịch sử, tiếp cận trực tiếp, tiếp cận không gian - thời gian và tiếp cận đa ngành, đa lĩnh vực. Hệ thống phương pháp nghiên cứu gồm 7 nhóm:

  1. Phương pháp khảo sát đo đạc thực địa: Tiến hành trong các giai đoạn 2011-2012, 2013-2014, 2015-2017 nhằm đo vẽ mặt cắt địa mạo, mô tả hình thái, lấy mẫu chìa khóa đối chứng.
  2. Phương pháp phân tích viễn thám: Xử lý ảnh máy bay (1952, 1965, 1975, 1978, 1979, 1999) và ảnh vệ tinh Landsat TM/ETM/8, SPOT-4/5, Sentinel-1/2, Planet (từ 1989 đến 2017); sử dụng kỹ thuật hiệu chỉnh khí quyển, tổ hợp màu và Fusion tăng độ phân giải (Landsat lên 15 m, SPOT lên 2,5 m).
  3. Phương pháp bản đồ và GIS: Ứng dụng mô hình số độ cao (DEM) từ bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000 và 1:25.000 để phân tích độ dốc, độ chia cắt và cấu trúc đứt gãy.
  4. Phương pháp phân tích địa mạo: Phân tích hình thái, trắc lượng hình thái, phân biệt địa hình nguyên sinh biển và địa hình cải biến do gió.
  5. Nhóm phương pháp địa chất: Phân tích thạch học, khoáng vật, tướng trầm tích, địa tầng Đệ tứ và tuổi đồng vị carbon phóng xạ ($^{14}C$).
  6. Phương pháp phân tích lịch sử khảo cổ: Khai thác tư liệu đê điều cổ, di tích đền miếu, vách mài mòn biển cổ và ghi chép lịch sử về đóng - mở cửa sông.
  7. Phương pháp phân tích tổng hợp: Liên kết toàn diện các nguồn số liệu nội - ngoại sinh để thành lập bản đồ địa mạo và dự báo xu thế biến động.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu biến động địa hình vùng cửa sông ven biển

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về cửa sông, phân tích các quan điểm phân loại VCSVB theo hình thái, động lực kiến tạo, bùn cát và thủy hải văn. Chương này tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế; xác lập cơ sở phương pháp luận dựa trên 5 cách tiếp cận khoa học. Trọng tâm của chương là thiết lập quy trình tích hợp giữa công nghệ viễn thám đa thời gian, hệ thông tin địa lý (GIS) và khảo sát địa mạo thực địa để xây dựng bản đồ địa mạo theo nguyên tắc "Bề mặt đồng nguồn gốc và tuổi".

Chương 2. Đặc điểm và vai trò của các yếu tố tác động đến biến động địa hình vùng cửa sông ven biển Bắc Trung Bộ

Chương 2 phân tích định lượng và cơ chế tác động của 3 nhóm yếu tố:

  • Yếu tố nội sinh: Cấu trúc địa tầng đá móng, các khối nâng - hạ tân kiến tạo và hoạt động của mạng lưới đứt gãy phương TB-ĐN và ĐB-TN. Chuyển động hạ lún kết hợp đứt gãy phá hủy đất đá bở rời tại các điểm nút giao nhau (như Lạch Trường, Lạch Ghép, Thuận An) làm gia tăng cường độ xói lở.
  • Yếu tố ngoại sinh: Dao động mực nước biển trong Holocen; chế độ mưa, lưu lượng nước và bùn cát sông; chế độ sóng biển, thủy triều, dòng chảy ven bờ và hiện tượng nước dâng do bão. Nguồn bồi tích sông lớn tại sông Mã thúc đẩy bồi tụ, trong khi dòng ven bờ chiếm ưu thế tại Thạch Hãn và sông Hương gây xói lở.
  • Yếu tố nhân sinh: Tác động từ hệ thống hồ chứa thượng lưu làm suy giảm lượng bùn cát hạ lưu; hệ thống đê biển, đập ngăn mặn làm thay đổi dòng chảy; hoạt động nuôi trồng thủy sản, khai thác cát và xây dựng đô thị ven biển làm biến dạng địa hình cục bộ.

Chương 3. Đặc điểm địa mạo các vùng cửa sông ven biển Bắc Trung Bộ

Chương 3 trình bày kết quả thành lập bản đồ địa mạo tỷ lệ lớn cho 3 khu vực nghiên cứu trọng điểm:

  • VCSVB sông Mã (kiểu Delta): Xác lập 13 dạng địa hình gồm 3 dạng nguồn gốc sông (bãi bồi, thềm bậc I, bề mặt tích tụ sông), 7 dạng nguồn gốc hỗn hợp (sông - biển, sông - đầm lầy, sông - biển - đầm lầy) và 3 dạng nguồn gốc biển (cồn cát, bãi cát ven biển, bề mặt tích tụ biển). Xây dựng 2 mặt cắt địa mạo AB và CD làm rõ cấu trúc phân tầng trầm tích.
  • VCSVB sông Thạch Hãn (kiểu Liman): Xác lập 17 dạng địa hình gồm 4 dạng nguồn gốc biển, 7 dạng nguồn gốc hỗn hợp và 6 dạng nguồn gốc sông; thể hiện rõ các thềm bóc mòn, cồn cát gió tại Triệu Vân và bãi biển hiện đại Gio Hải.
  • VCSVB sông Hương (kiểu Liman): Xác lập 17 dạng địa hình gồm 4 dạng nguồn gốc biển, 9 dạng nguồn gốc hỗn hợp và 4 dạng nguồn gốc sông; phản ánh sự phát triển của hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, đụn cát ven biển tại Hải Dương, bãi biển Thái Dương và doi cát cửa Tư Hiền.

Chương 4. Đánh giá biến động địa hình và vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên lãnh thổ các vùng cửa sông ven biển Bắc Trung Bộ

Chương 4 tái hiện lịch sử phát triển địa hình qua 3 thời kỳ: Pleistocen giữa - muộn, Holocen sớm - giữa và Holocen muộn - hiện đại; đồng thời đánh giá định lượng biến động địa hình đường bờ:

  • VCSVB sông Mã: Diễn biến bồi tụ tiến ra biển chiếm ưu thế. Đường bờ qua các thời kỳ 1965-1975, 1975-1990, 1990-2001, 2001-2017 liên tục mở rộng tại khu vực cửa Hới và bãi bồi ven biển.
  • VCSVB sông Thạch Hãn: Quá trình xói lở và dịch chuyển cửa chiếm ưu thế qua các giai đoạn 1952-1965, 1965-1979, 1979-1989, 1989-1999, 1999-2017 tại khu vực Cửa Việt.
  • VCSVB sông Hương: Xói lở bờ biển chiếm ưu thế qua các giai đoạn 1965-1978, 1978-1989, 1989-1994, 1994-1999, 1999-2005, 2005-2017; điển hình là sạt lở phá hủy nhà cửa tại xã Hải Dương và biến động luồng lạch tại cửa Thuận An, Tư Hiền.
  • Khuyến nghị giải pháp: Đề xuất 4 nhóm giải pháp phục vụ quy hoạch: (1) Khai thác, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên; (2) Đảm bảo hành lang thoát lũ ven biển; (3) Khai thác hiệu quả hệ thống luồng lạch giao thông thủy; (4) Khai thác các loại hình du lịch biển và công trình phòng chống xói lở.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã bảo vệ thành công hai luận điểm khoa học:

  • Luận điểm 1: Khẳng định địa hình VCSVB Bắc Trung Bộ có nguồn gốc đa dạng, phức tạp và phân hóa rõ rệt theo vĩ độ. VCSVB sông Mã phát triển theo kiểu "Delta" với 13 dạng địa hình (3 dạng nguồn gốc sông, 7 dạng hỗn hợp, 3 dạng biển). VCSVB Thạch Hãn và VCSVB sông Hương phát triển theo kiểu "Liman", trong đó sông Thạch Hãn gồm 17 dạng (6 sông, 7 hỗn hợp, 4 biển) và sông Hương gồm 17 dạng (4 sông, 9 hỗn hợp, 4 biển).
  • Luận điểm 2: Trong Đệ tứ muộn - hiện đại, địa hình 3 VCSVB trải qua 3 thời kỳ biến động với xu thế tiến ra biển ở các mức độ khác nhau. Ở thời kỳ hiện đại, tồn tại sự phân hóa động lực đối lập: bồi tụ lấn biển chiếm ưu thế tại VCSVB sông Mã; xói lở, biển lấn chiếm ưu thế tại VCSVB sông Thạch Hãn và VCSVB sông Hương.

Các đóng góp mới của luận án gồm:

  1. Ứng dụng công nghệ viễn thám phân giải cao kết hợp GIS và phương pháp truyền thống để xây dựng hệ thống bản đồ địa mạo chi tiết cho 3 VCSVB (sông Mã, Thạch Hãn, Hương) theo nguyên tắc "Bề mặt đồng nguồn gốc và tuổi".
  2. Khôi phục các đường bờ biển cổ thời kỳ Pleistocen muộn ở VCSVB sông Thạch Hãn, sông Hương và đường bờ Holocen giữa ở VCSVB sông Mã bằng chỉ thị địa mạo - địa chất Đệ tứ; đồng thời tái lập vị trí đường bờ qua nhiều thời đoạn (1952-2017 đối với Thạch Hãn, Hương và 1965-2017 đối với sông Mã) bằng tư liệu viễn thám và GIS.
  3. Làm sáng tỏ bản chất các quá trình địa mạo động lực hiện đại, cung cấp luận cứ khoa học giải thích nguyên nhân xói lở - bồi tụ phục vụ quy hoạch sử dụng đất, quai đê lấn biển, chỉnh trị luồng lạch và giảm nhẹ thiên tai ven biển Bắc Trung Bộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu tập trung chi tiết vào 3 VCSVB trọng điểm (sông Mã, Thạch Hãn, Hương) làm đại diện cho hai kiểu Delta và Liman; chưa thể bao quát đo đạc thực địa chi tiết đồng bộ toàn bộ 23 cửa sông trên toàn dải ven biển Bắc Trung Bộ. Dữ liệu trầm tích Đệ tứ và mặt cắt địa hình đáy luồng phụ thuộc vào các đợt khảo sát định kỳ, chưa có chuỗi quan trắc liên tục theo thời gian thực.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng ứng dụng quy trình viễn thám - GIS và mô hình số trị thủy thạch động lực 3D cho các cửa sông còn lại trong khu vực (cửa Hội, cửa Gianh, cửa Nhật Lệ); tích hợp dữ liệu viễn thám radar và quang học độ phân giải siêu cao (như Sentinel, PlanetScope) để cập nhật biến động đường bờ hàng năm dưới tác động của các công trình thủy điện thượng nguồn và nước biển dâng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên chuyên ngành Địa lý, Địa mạo, Cổ địa lý, Địa chất Đệ tứ: Tham khảo khung phương pháp luận thành lập bản đồ địa mạo theo nguyên tắc "Bề mặt đồng nguồn gốc và tuổi" (Chương 1), phân loại địa tầng Đệ tứ và vai trò đứt gãy kiến tạo (Chương 2, Chương 3).
  • Các cơ quan quản lý nhà nước (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Huế): Sử dụng bản đồ phân vùng biến động địa hình và các sơ đồ dự báo dịch chuyển đường bờ (Chương 4) để quy hoạch không gian dải ven bờ, thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển và cấp phép khai thác khoáng sản cát.
  • Các đơn vị tư vấn thiết kế công trình thủy lợi, giao thông thủy, cảng biển: Sử dụng số liệu xói lở, bồi lấp luồng tàu tại Cửa Hới, Cửa Việt, Thuận An, Tư Hiền để thiết kế công trình chỉnh trị, kè chắn cát giảm bồi lắng luồng hàng hải.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án phân loại các vùng cửa sông Bắc Trung Bộ thành những kiểu nào và 3 khu vực nghiên cứu đại diện cho kiểu nào?
    Luận án phân loại 23 cửa sông Bắc Trung Bộ thành 2 nhóm chính dựa trên địa chất - địa mạo và động lực học: cửa sông châu thổ (Delta) với đặc trưng phát triển bãi ngầm trước cửa (đại diện là VCSVB sông Mã), và cửa sông dạng Liman với đặc trưng ít bồi tích, phát triển đầm phá và doi cát song song với bờ (đại diện là VCSVB sông Thạch Hãn và VCSVB sông Hương).

  2. Nguyên tắc nào được tác giả sử dụng để thành lập bản đồ địa mạo các vùng cửa sông?
    Tác giả áp dụng nguyên tắc "Bề mặt đồng nguồn gốc và tuổi", trong đó các đơn vị địa mạo được phân chia theo nguồn gốc phát sinh (sông, biển, hỗn hợp sông - biển, bóc mòn...) và sắp xếp theo thứ tự tuổi từ trẻ đến già, thể hiện qua hệ thống màu sắc và ký hiệu chuẩn hóa trong môi trường GIS.

  3. Xu thế biến động địa hình hiện đại tại 3 vùng cửa sông nghiên cứu có sự khác biệt như thế nào?
    VCSVB sông Mã có xu thế bồi tụ lấn biển chiếm ưu thế do nguồn bùn cát sông dồi dào; ngược lại, VCSVB sông Thạch Hãn và sông Hương có xu thế xói lở bờ biển và biển lấn chiếm ưu thế do động lực sóng, dòng ven bờ mạnh và thiếu hụt bồi tích sông.

  4. Những nguồn tư liệu viễn thám nào đã được sử dụng để khôi phục biến động đường bờ qua các thời kỳ?
    Luận án sử dụng ảnh máy bay các năm 1952, 1965, 1975, 1978, 1979, 1999 kết hợp ảnh vệ tinh Landsat (TM, ETM, Landsat-8), SPOT-4/5, Sentinel-1/2 và Planet từ năm 1989 đến 2017, tích hợp với bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000 và 1:25.000.

  5. Các đới đứt gãy kiến tạo có vai trò gì đối với hiện tượng xói lở tại vùng cửa sông Bắc Trung Bộ?
    Các đới đứt gãy phương TB-ĐN (Sông Mã, Sơn La - Bỉm Sơn, Sông Cả, Rào Nậy, Khe Giữa - Vĩnh Linh, Sông Quảng Trị, Đắk Krông - Huế) và đứt gãy phương ĐB-TN khi cắt ra bờ biển tạo ra các vùng đập vỡ đất đá bở rời. Tại các điểm nút giao nhau của đứt gãy, cường độ xói lở bờ sông, bờ biển diễn ra mạnh nhất (như tại Lạch Trường, Lạch Ghép, Thuận An).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Công Quân đã làm sáng tỏ đặc điểm địa mạo và lịch sử tiến hóa địa hình Đệ tứ muộn - hiện đại tại các VCSVB Bắc Trung Bộ thông qua việc kết hợp phương pháp địa mạo truyền thống với công nghệ viễn thám đa thời gian và GIS. Công trình đã chứng minh sự phân hóa nguồn gốc hình thái và quy luật biến động động lực đối lập giữa kiểu châu thổ bồi tụ lấn biển (sông Mã) và kiểu Liman xói lở biển lấn (Thạch Hãn, sông Hương). Hệ thống bản đồ địa mạo chi tiết cùng các phân tích định lượng về biến động đường bờ cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp phục vụ quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên lãnh thổ và phòng chống thiên tai ven biển tại khu vực miền Trung.