Chương 1: Tổng quan. Chương 2: Mô hình SWAT. Chương 3: Ứng dụng mô hình SWAT để đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến dòng chảy lũ trạm Đồng Trăng, sông Cái Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Kết luận và kiến nghị 11 z CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN 1.
Đặc điểm địa lý tự nhiên 1. Vị trí địa lý Sông Cái Nha Trang là con sông lớn nhất tỉnh Khánh Hòa có vị trí địa lý nằm trong khoảng 120°03' - 120°37' vĩ độ Bắc, 108°41' - 109°12' kinh độ Đông. Sông bắt nguồn từ đỉnh núi phía Tây Bắc xã Khánh Thượng cao 1477.5m, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Khi đến thôn Trang xã Khánh Thượng sông đổi sang hướng Tây - Đông và nhập với sông Chò tại thôn 1 xã Diên Đồng.
Sông tiếp tục chảy theo hướng Tây - Đông và nhập với sông Suối Dầu tại Cầu Hà Dừa - thị trấn Diên Khánh, sông đổ ra vịnh Nha Trang tại cầu Trần Phú. Diện tích lưu vực 2000km2, chiều dài sông chính 79km, độ rộng bình quân lưu vực là 25.3km với hệ số uốn khúc 1.4, hệ số hình dạng là 0.70/00, mật độ lưới sông 0. Lưu vực sông Cái Nha Trang bao trùm toàn bộ Thành phố Nha Trang, huyện Diên Khánh, Khánh Vĩnh và một phần diện tích của huyện Cam Lâm tỉnh Khánh Hòa và MaĐrăk tỉnh ĐăkLăk. Phía bắc giáp lưu vực sông Dinh Ninh Hòa, phía Nam giáp lưu vực sông Cái Phan Rang, phía Tây giáp lưu vực sông ĐăkRông, phía Đông giáp Biển Đông.
Địa hình, địa mạo Địa hình lưu vực sông Cái Nha Trang có xu hướng dốc dần từ Tây sang Đông, đỉnh núi cao nhất ở phía tây là đỉnh Hòn Giao Bắc có độ cao 2038.2m, khu vực trung du có độ cao phổ biến từ 10 đến 25m, khu vực đồng bằng có độ cao phổ biến từ 2 đến 10m. Độ dốc trung bình vùng núi là 16%, độ dốc trung bình lưu vực 2,8%. Lưu vực sông Cái Nha Trang nằm ở sườn Đông của dãy Trường Sơn, địa hình bị chia cắt nhiều bởi những ngọn núi, khu vực ven biển có những dãy núi đâm ngang ra biển. Khu vực đồng bằng và trung du xen kẽ những đỉnh núi nhỏ có độ cao từ 40 đến 50m, cá biệt có đỉnh núi Chín Khúc có độ cao 592.6m, các quả đồi nhỏ có độ cao 20 đến 30m.
Địa hình cao nhất và dốc nhất là khu vực phía Tây nam của lưu 12 z vực, khu vực này là thượng nguồn của các nhánh sông đổ vào sông Thác Ngựa là nhánh sông chính của sông Cái Nha Trang. Sơ đồ lƣu vực sông Cái Nha Trang 1. Địa chất, thổ nhƣỡng a. Địa chất Địa chất Khánh Hòa cơ bản thuộc các nhóm: nhóm đá Macma phân bố phần lớn phía Tây tỉnh; nhóm đá phiến phân bố chủ yếu ở Khánh Vĩnh; nhóm trầm tích đệ tứ phân bố vùng ven sông, suối, sườn núi đến chân núi với thành phần bở rời.
Thổ nhƣỡng Thổ nhưỡng Khánh Hòa gồm nhiều loại đất khác nhau, chủ yếu là: - Nhóm đất đỏ vàng: chiếm tỷ lệ lớn và phân bố rộng, nhất là những vùng đồi núi có Feralit xảy ra mạnh. Đất đỏ vàng phát triển trên đá mẹ phiến thạch ở Khánh Vĩnh. - Đất mùn vàng trên núi cao 900-1000m. - Đất thung lũng có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình và đất phù sa phân bố dọc các sông suối trong tỉnh.
13 z - Đất pha cát thành phần cơ giới nhẹ và thô, kết cấu rời rạc, phân bố phần lớn vùng ven biển phía đông. Diện tích các loại đất đai tỉnh Khánh Hòa Đơn vị: 1000ha Tên đất Ký hiệu Diện tích I. Nhóm đất cát, cồn cát và cát biển C 18,350. Nhóm đất mặn M 8,239.
Đất mặn sú vẹt đước Mm 1,549. Đất mặn nhiều Mn 674. Đất mặn ít và trung bình M 6,016. Nhóm đất phèn S 920.
Đất phèn tiềm tàng Sp2M 920. Nhóm đất phù sa P 33,056. Đất phù sa được bồi chua Pbc 541. Đất phù sa không được bồi chua Pc 9,243.
Đất phù sa Glei Pg 15,540. Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng Pf 2,481. Đất phù sa ngòi suối Py 5,251. Nhóm đất xám và bạc màu X;B 25,332.
Đất xám trên phù sa cổ X;B 3,838. Đất xám trên đá Macma acid và đá cát Xa 21,494. Nhóm đất đỏ vàng F 300,850. Đất đỏ vàng trên đá biến chất Fs 50,516.
Đất đỏ vàng trên đá Macma acid Fa 239,264. Đất vàng nhạt trên đá cát Fq 1,833. Đất đỏ vàng trên phù sa cổ Fp 5,395. Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa Fl 3,842.Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi H 57,743.
Đất mùn vàng đỏ trên đá Macma acid Ha 57,743. Nhóm đất thung D 2,881. Đất thung do sản phẩm dốc tụ d 2,881. Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá E 14,141.
Thảm thực vật Vùng thượng lưu sông Cái Nha Trang chủ yếu là rừng nguyên sinh lá rộng, xen kẽ là rừng hỗn giao tre nứa và trảng cỏ cây bụi. Tùy theo độ cao của địa hình có sự phân hóa về thảm phủ thực vật như sau: - Khu vực đỉnh núi ở độ cao trên dưới 2000m: Thảm thực vật thân gỗ chỉ cao khoảng 7 - 10m, tán xen kẽ. Sự phân tầng của thảm thực vật không thật sự rõ rệt. Ở đây chủ yếu là sự góp mặt của các loài thực vật có nhiều thân trên một gốc.
Trên thân cây phủ lớp rêu mỏng. Một số loài thực vật bì sinh phát triển trên cành, nhánh cây. Điểm đáng lưu ý là các sườn của đỉnh núi rất dốc, nhưng vẫn được bao phủ bởi thảm thực vật rừng khá dày với sức sống tốt. Dưới tán rừng, lớp lá rụng 3 - 4cm với quá trình phân giải chậm.
Cây có độ cao đạt tới 10m, đường kính 50 - 100cm, tán đan xen. Cây có sự phân cành sớm, ở độ cao khoảng 2 - 3m. - Khu vực đỉnh - sườn núi ở độ cao 1400 - 1700m: Rừng á nhiệt đới thường xanh cây lá rộng và cây lá rộng, lá kim núi trung bình. Rừng có diện tích lớn với cây đa trội và cấu trúc thảm phức tạp.
Rừng phân ra nhiều tầng nhưng có 2 tầng chủ đạo, các tầng trung gian không liên tục, xen kẽ nhau. Ngoài ra ở độ cao này còn có rừng lá kim núi trung bình (rừng thông 3 lá tự nhiên). - Khu vực có độ cao dưới 1400m: Rừng chủ yếu là rừng trồng, loại cây lá rộng thường là cây keo, cao su, cà phê, hồ tiêu, ca cao và cây lá kim là cây thông. - Khu vực trung du có độ cao dưới 100m thường là các trảng cây cỏ bụi, các cây lá rộng với tán cây có đường kính từ 2 đến 4m, thân cây có đường kính từ 10 đến 30cm, độ cao từ 2 đến 5m.
Các cây được trồng chủ yếu là mía và cây keo từ 2 đến 5 năm tuổi. 15 z Theo niên giám thống kê tỉnh Khánh Hòa, khu vực trung du và đồng bằng lưu vực sông Cái Nha Trang là đất nông nghiệp với diện tích 1262.2km2, đất phi nông nghiệp với diện tích 131.1km2, đất chưa sử dụng 363. Khí hậu Nhìn chung lưu vực sông Cái Nha Trang tỉnh Khánh Hòa chịu sự chi phối chung của khí hậu nội chí tuyến nhiệt đới gió mùa, có ảnh hưởng khí hậu đại dương. So với các vùng phía Bắc thì mùa đông ít lạnh hơn, mùa khô nóng kéo dài hơn; so với các vùng phía Nam thì mùa mưa muộn hơn.
Mùa khô bắt đầu từ tháng I và kết thúc vào tháng VIII, trong mùa khô xuất hiện thời kỳ mưa tiểu mãn vào khoảng trung tuần tháng V đến hạ tuần tháng VI; mùa mưa, bắt đầu từ tháng IX và kết thúc vào trung tuần tháng XII. Mƣa Do địa hình phức tạp nên lượng mưa giữa các khu vực có sự chênh lệch nhau khá lớn. Lượng mưa trung bình năm trên lưu vực sông Cái Nha Trang thì lớn hơn khoảng từ 1300 - 1931mm. Tổng lượng mưa mùa mưa khoảng 900 - 1059mm, chiếm khoảng 67 - 75% lượng mưa năm; tổng lượng mưa mùa khô khoảng 300 - 450mm.
Những trận mưa, lũ lớn chủ yếu tập trung vào tháng X và XI. Nhiệt độ không khí Nhiệt độ trung bình năm ở vùng đồng bằng và ven biển dao động từ 26,3°C đến 26,9°C, lên đến độ cao 400m nhiệt độ giảm xuống khoảng 23,0 -24,0°C. Nhìn chung trong năm ít xảy ra các đợt nắng nóng kéo dài nhiều ngày gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống. Độ ẩm tƣơng đối Độ ẩm khá thấp, trung bình năm vào khoảng 80% tại Nha Trang.
Hàng năm chỉ có 2 - 3 tháng đầu mùa đông (tháng X, XI, XII) là khá ẩm với độ ẩm trung bình 85%. Còn trong nửa cuối mùa đông độ ẩm giảm xuống 80 - 83%. Tháng ẩm nhất là tháng XI có độ ẩm khoảng 85 - 87%. Bốc hơi 16 z Tổng lượng bốc hơi trung bình nhiều năm dao động từ 1000 - 1100mm/năm tức là bằng 2/3 lượng mưa.
Trong 3 tháng (từ tháng VI - VIII), mỗi tháng lượng bốc hơi đạt tới 120 - 150mm, vượt quá lượng mưa các tháng này. Thời kỳ bốc hơi ít nhất là các tháng mùa mưa, từ tháng X - XII, lượng bốc hơi chỉ khoảng 60 - 80mm. Gió và bão Hướng gió thịnh hành mùa đông là hướng Đông Bắc hoặc Bắc; mùa hè, hướng gió thịnh hành là hướng Tây và Tây Nam. Thủy văn – Hải văn Thủy triều Thuỷ triều ở Nha Trang là chế độ nhật triều không đều, trong một tháng có khoảng 20 ngày là chế độ nhật triều.
Trong thời kỳ triều cường, nước triều lớn nhất từ 1,8 - 2,3m (tính theo 0 Hải đồ), mực nước triều nhỏ nhất từ 0,4 - 0,8m. Trong năm, các tháng XI, XII, I, II luôn luôn xuất hiện thời kỳ triều cường có mực nước đỉnh triều cao nhất năm và các tháng VI, VII, VIII luôn xuất hiện thời kỳ triều cường có mực nước đỉnh triều thấp nhất năm. Nguyên nhân là do về các tháng mùa đông xuất hiện trường gió Đông Bắc tạo nước dềnh phía Tây Biển Đông. Một nguyên nhân nữa là do ảnh hưởng của ATNĐ và bão đã tạo nên nước dâng ở vùng bờ biển.
Khi xét ảnh hưởng của lũ và triều ta thấy khi gặp triều lên mực nước có thể dâng cao hơn trường hợp không có triều từ 20 - 30cm, khi triều xuống mực nước có thể chênh lệch so với mực nước không ảnh hưởng triều từ 9 - 10cm. Dòng chảy năm Dòng chảy trên các sông chủ yếu do mưa cung cấp, nên sự phân bố của dòng chảy tương tự sự phân bố của mưa. Độ sâu dòng chảy trên lưu vực sông Cái Nha Trang là 1159mm.