ĐẶT VẤN ĐỀ Theo quan niệm truyền thống phƣơng Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, ngƣời cha luôn là trụ cột quan trọng nhất của một gia đình. Ngƣời cha đƣợc coi là ngƣời thầy đầu tiên của các con bên cạnh ngƣời mẹ. Cùng với đó, ngƣời cha thƣờng đƣợc đề cập đến nhƣ là một nhà giáo dục có những thế mạnh đặc biệt về tính nghiêm khắc, ý chí và bản lĩnh vƣợt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống.điều này ảnh hƣởng rất lớn đến sự phát triển của VTN sau này. Vị thành niên/thanh niên (VTN/TN) là lứa tuổi đặc biệt, là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con thành ngƣời lớn.
Trong giai đoạn phát triển năng động này, VTN/TN dễ dàng tiếp nhận những thông tin có ích từ gia đình và xã hội qua đó chuyển tải thành nhân cách sống của bản thân. Bên cạnh đó, nếu không có sự quan tâm đúng mực của ngƣời cha, gia đình, nhà trƣờng và xã hội thì VTN/TN cũng rất dễ bị tác động bởi những hành vi và lối sống có hại cho sức khỏe. Theo một nghiên cứu tại Mỹ, tỷ lệ quan hệ tình dục trƣớc tuổi 18 của VTN/TN Mỹ gốc phi là 66,76%, trong khi tỷ lệ này ở nhóm VTN/TN Mỹ da trắng là 55,26%. Từ tỷ lệ quan hệ tình dục trƣớc tuổi 18 của nhóm VTN/TN Mỹ gốc phi cao hơn các tác giả đã đi đến kết luận rằng chính sự trao đổi cởi mở với ngƣời cha về chủ đề QHTD là yếu tố đặc biệt quan trọng khiến cho tỷ lệ QHTD của VTN/TN Mỹ da trắng dƣới 18 tuổi thấp hơn nhóm VTN/TN Mỹ gốc Phi[22].
Do có rất nhiều thay đổi về tâm lý, tình cảm, thể chất của VTN/TN trong giai đoạn này nên cần có sự quan tâm, hƣớng dẫn, điều chỉnh kịp thời để VTN/TN có một khởi đầu tốt cho cuộc sống tƣơng lai. Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sự quan tâm, sự gắn kết giữa ngƣời cha với VTN/TN là thành tố quan trọng của gia đình và đây cũng chính là yếu tố bảo vệ VTN/TN trƣớc những yếu tố khả năng đến hành vi sức khỏe của VTN/TN nhƣ: quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân, hút thuốc và uống rƣợu bia. Okulicz-Kozaryn đã chứng minh, khi ngƣời cha giám sát con trai kỹ càng thì tỷ lệ VTN nam uống rƣợu sẽ giảm đi 1,4 lần so với những VTN không nhân đƣợc sự giám sát đầy đủ của ngƣời cha[28]. 10 Nhƣ chúng ta biết, trong xã hội hiện nay, kiểu gia đình truyền thống dần đƣợc thay thế bằng mô hình gia đình kiểu mới.
“Ngƣời cha kiểu mới” thƣờng cùng ngƣời vợ tham gia gánh vác công việc gia đình và giáo dục con cái. Tuy nhiên, hình thức giáo dục không phải theo kiểu truyền thống “cha nói áp đặt phải nghe” mà “ngƣời cha mới” luôn cởi mở, gẫn gũi, thẳng thắn trao đổi với con, động viên, uốn nắn kịp thời đặc biệt là đối tƣợng VTN/TN. Nhằm tìm hiểu sự gắn kết giữa ngƣời cha với VTN/TN và xác định vai trò của ngƣời cha trong việc giáo dục hành vi sức khỏe cho VTN/TN trên địa bàn thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dƣơng, qua đó có cái nhìn khái quát về vài trò của ngƣời cha trong xã hội hiện đại. Đồng thời đƣợc sự giúp đỡ của nhóm nghiên cứu đề tài “sự gắn kết giữa cha em với VTN/TN và mối liên quan giữa sự gắn kết với hành vi sức khỏe của VTN/TN” thuộc trƣờng Đại học y tế công cộng.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài―Nghiên cứu sự gắn kết giữa người cha với VTN/TN và mối liên quan đến hành vi sức khỏe của VTN/TN tại Chí Linh – Hải Dương‖. 11 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả sự gắn kết giữa ngƣời cha với VTN/TN trên một số khía cạnh nhƣ: sự trao đổi, sự quan tâm, sự tham gia, sự giám sát của ngƣời cha với vị thành niên/thanh niên tại Chí Linh – Hải Dƣơng. Xác định mối liên quan giữa một số khía cạnh của sự gắn kết nhƣ: 2.
Sự trao đổi, sự quan tâm, sự giám sát của ngƣời cha với hành vi QHTDTHN của VTN/TN. Sự trao đổi, sự giám sát, sự quan tâm của ngƣời cha với hành vi hút thuốc của VTN/TN. Sự quan tâm, sự giám sát và sự tham gia của ngƣời cha với hành vi uống rƣợu bia của VTN/TN tại địa bàn Chí Linh – Hải Dƣơng. 12 13 KHUNG LÝ THUYẾT VỀ VAI TRÒ CỦA NGƢỜI CHA TRONG VIỆC GIÁO DỤC HÀNH VI SỨC KHỎE CHO VTN/TN TẠI CHILILAB Trao đổi Các yếu tố về cá nhân - Nội dung, chủ đề trao đổi người cha - Sự cởi mở khi trao đổi Các hành vi sức - Tuổi - Sự bình đẳng trong trao đổi - Học vấn - Lắng nghe và hiểu con khi trao đổi khỏe của VTN/TN - Nghề nghiệp - Số con - Thu nhập của ngƣời cha Sự quan tâm - Quan tâm đến việc học MỤC - Quan tâm đếnTIÊU bạn bè,NGHIÊN ngƣời yêu CỨU - Quan tâm đến VTN đi đâu, làm gì - Quan tâm đến suy nghĩ, tâm trạng của VTN Yếu tố gia đình - Điều kiện kinh tế - Địa dƣ Sự tham gia - Tình trạng hôn nhân - Giúp con trong việc học - Quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân - Phƣơng tiện truyền thông - Tham gia vào các công việc ở trƣờng cùng VTN - Hút thuốc - Một số đặc điểm của mẹ - Tham gia vào các hoạt động vui chơi của VTN - Tham gia vào các công việc nhà cùng VTN - Uống rƣợu bia Sự giám sát - Giám sát việc học Yếu tố VTN/TN - Giám sát sinh hoạt, giải trí - Giới - Giám sát hoạt động bên ngoài của VTN - Tuổi - Giám sát các hành vi nguy cơ - Giám sát các mối quan hệ của VTN/TN - Giám sát chi tiêu của VTN/TN 14 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Những hành vi sức khỏe nguy cơ của VTN/TN Do đặc thù VTN/TN là đối tƣợng đang trong quá trình hình thành và tạo lập nhân cách, vì thế sự phát triển tự nhiên của VTN/TN đƣợc xã hội rất quan tâm. Trong đó hành vi sức khỏe của VTN/TN luôn đƣợc chú ý. Kết quả nghiên cứu của tác giả Christine M. Markham thấy rằng, 68% sinh viên xác nhận họ đã quan hệ tình dục, trong đó tỷ lệ nam giới có QHTD cao hơn nữ (73% so với 63%).
Tỷ lệ sinh viên nam trả lời có quan hệ tình dục trƣớc tuổi 13 là 30%, trong khi tỷ lệ này ở nữ là 15%. Có 29% sinh viên trả lời họ đã có thai ngoài ý muốn, 63% nữ sinh viên không sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục trong 3 tháng gần đây, tỷ lệ này ở sinh viên nam là 49%[24]. Trong nghiên cứu của tác giả Carolyn L. Clawson về tỷ lệ sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục của đối tƣợng VTN/TN thì trong 30 ngày gần đây, 24,8% VTN/TN cho biết họ và bạn tình của họ luôn luôn sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục, nhƣng cũng có 22% ĐTNC trả lời không sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục trong 30 ngày gần đây[8].
Còn theo nghiên cứu của tác giả Fred Piercy có 76% VTN/TN biết sử dụng bao cao su đúng cách và 24% VTN/TN không biết cách sử dụng đúng cách bao cao su trong quan hệ tình dục[29]. Theo kết quả nghiên cứu tại Chí Linh - Hải Dƣơng của tác giả Lê Cự Linh và cộng sự thì 23,4% VTN nam và 13,5% VTN nữ đã kết hôn thừa nhận có QHTDTHN. Với VTN/TN chƣa kết hôn, 5,1% nam và 1,0% nữ đã có QHTD.Tỷ lệ sử dụng bao cao su trong lần QHTD gần nhất là 31,1% nam và 12,6% nữ[2]. Tại Việt Nam, 43,6% VTN/TN đã từng hút thuốc, có 71,7% VTN/TN đã hút thuốc cho biết hiện nay vẫn đang hút thuốc.
Theo kết quả nghiên cứu tại Chí Linh – Hải Dƣơng, có 17,3% VTN/TN hút thuốc lá (31,1% nam và 4% nữ), 43,8% VTN/TN đã từng sử dụng rƣợu bia, 33,4% nam và 10,1% nữ đã từng say rƣợu bia[2]. Sự gắn kết giữa cha mẹ và VTN/TN Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ: Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thƣơng yêu, trông nom, nuôi dƣỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành ngƣời con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội[3]. Nghiên cứu của Christine và cộng sự đo lƣờng mối liên quan giữa sự kết nối với gia đình của VTN và những hành vi tình dục nguy cơ. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy những VTN càng gắn kết với gia đình thì tỷ lệ quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân, quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su, nguy cơ mang thai càng giảm.
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa sự gắn kết cha mẹ với VTN/TN và việc “trì hoãn” hành vi quan hệ tình dục sớm. Sự gắn kết với cha mẹ càng cao thì khả năng “trì hoãn” quan hệ tình dục sớm của VTN/TN cũng tăng theo tỷ lệ tƣơng ứng. Sự giám sát của cha mẹ cũng là yếu tố làm giảm số bạn tình của VTN/TN. Cứ trung bình khi cha mẹ “không” giám sát VTN/TN 10h/tuần thì số bạn tình của VTN/TN tăng thêm 0,25 ngƣời với VTN/TN nam và 0,07 ngƣời với VTN/TN nữ.
Với các bệnh lây nhiễm qua đƣờng tình dục, nghiên cứu cũng chỉ rõ, khi thời gian “không” giám sát của cha mẹ với VTN/TN ≤ 5h/tuần thì tỷ lệ mắc các bệnh lây nhiễm qua đƣờng tình dục là 5,7%, nếu thời gian “không” giám sát tăng lên từ 6-29h thì tỷ lệ mắc bệnh lây nhiễm qua đƣờng tình dục của VTN/TN là 11,2%, và khi cha mẹ “không” giám sát ≥ 30h/tuần thì tỷ lệ mắc STD của VTN/TN là 13,6%[24]. Sự giám sát của cha mẹ đến hoạt động sinh hoạt giải trí của VTN/TN có mối liên quan đến hành vi quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân của VTN/TN. Bên cạnh đó, cha mẹ thƣờng rất đắn đo xem nên nói những gì trong rất nhiều chủ đề nhạy cảm liên quan đến hành vi tình dục của VTN/TN. Theo nghiên cứu của tác giả Marla E.
Eisenberg và cộng sự cho thấy: 49,6% cha mẹ nói với VTN/TN về hậu quả của mang thai khi chƣa kết hôn, 41,4% cha mẹ nói về sự nguy hiểm của các bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục và 32,7% cha mẹ khuyên VTN/TN không nên quan hệ tình dục khi chƣa kết hôn[10]. Ngoài những vấn đề liên quan đến tình dục, ngƣời làm cha làm mẹ cũng rất quan tấm đến những vấn đề mà VTN/TN thƣờng gặp phải nhƣ hút thuốc, uống rƣợu bia.