CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về kỳ vọng của cha mẹ đối với con Kỳ vọng từ trước đến nay đã được nhiều nghiên cứu khẳng định có ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ [52],[42]. Theo tác giả Rosenthal và Jacobson khi ta đặt kỳ vọng vào một người nào đó, việc kỳ vọng sẽ ảnh hưởng đến cách giao tiếp, ứng xử của ta đối với người đó, điều này khiến cho cá thể được kỳ vọng có xu hướng đáp lại ta bằng những hành vi phù hợp, từ đó tiến gần đến những kỳ vọng mà ta dành cho họ.
Nghiên cứu của hai nhà khoa học nổi tiếng trên, sau này đã được phát triển thành “Hiệu ứng Rosenthal” hay “Hiệu ứng Pygmalion” và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, được các nhà giáo dục và tâm lý học quan tâm và ứng dụng. Họ tin rằng sức mạnh của niềm tin có thể giúp định hướng phát triển con trẻ. Trong đó, kỳ vọng và niềm tin của cha mẹ dành cho con cái được nhắc tới rất nhiều. Điều này hoàn toàn có căn cứ, vì theo Mô hình sinh thái của Bronfen brenner (1979), hệ thống vi mô quan trọng nhất đối với sự phát triển của một đứa trẻ là gia đình và cha mẹ là yếu tố xã hội hóa quan trọng nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nhân cách và hành vi của trẻ (Collins, Maccoby, 2000).
Chính tình yêu thương, sự quan tâm dạy dỗ của cha mẹ đã góp phần quan trọng nuôi dưỡng thể chất và tinh thần trẻ [62]. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng kỳ vọng của cha mẹ có vai trò rất lớn trong sự thành công của con cái. Điều này đã được thể hiện trong thành tích học tập, sự phát triển về mặt ngôn ngữ, định hướng tương lai hay những quyết định quan trọng trong đời. Nghiên cứu đánh giá mối quan hệ giữa kỳ vọng của cha mẹ và thành tích học tập của trẻ.Castro và cộng sự (2015) đã thực hiện một phân tích tổng hợp 37 nghiên cứu ở các trường mẫu giáo, tiểu học và trung học được thực hiện từ năm 2000 đến năm 2013 [37].
Kết quả cho thấy rằng có mối liên hệ rõ ràng giữa kỳ vọng của cha mẹ với thành tích học tập của trẻ. Bằng chứng được tìm thấy khi các gia đình đặt kỳ vọng cao về học tập cho con cái của họ, họ sẽ đầu tư về cả vật chất và tinh thần lên đứa trẻ, quan tâm về mọi hoạt động tại trường qua việc phát triển và duy trì thông 5 tin liên lạc với bạn bè, thầy cô giáo và nhà trường, đồng thời cha mẹ cũng can thiệp vào các hoạt động học tập và vui chơi của con để nhằm mục đích hiện thực hóa kỳ vọng của mình. Đồng quan điểm đó, Pinquart, Martin (2019) thực hiện phân tích tổng hợp từ 169 nghiên cứu lớn, nhỏ về mối quan hệ giữa kỳ vọng của cha mẹ và thành tích học tập của trẻ em và vị thành niên. Phân tích hồi quy đã chỉ ra rằng, kỳ vọng của cha mẹ dự đoán sự thay đổi trong thành tích của trẻ đồng thời ảnh hưởng của kỳ vọng đến sự thay đổi trong thành tích thậm chí còn mạnh hơn (r = 0.15) so với tác động của thành tích đối với sự thay đổi trong kỳ vọng (r = 0.
Nghiên cứu cũng chỉ ra kỳ vọng của cha mẹ có xu hướng cao hơn thành tích thật của trẻ. Mối liên hệ giữa kỳ vọng và thành tích đã được dàn xếp một phần bởi sự tham gia học tập của trẻ, khái niệm về bản thân trong học tập, và một phần bởi các hành vi hỗ trợ của cha mẹ. Tác giả cũng kết luận rằng các bậc cha mẹ nên truyền đạt những kỳ vọng giáo dục tích cực cho con cái của họ. Việc truyền tải những kỳ vọng tích cực cho con cái và khuyến khích sự tham gia học tập dường như hiệu quả hơn trong việc hiện thực hóa những kỳ vọng của cha mẹ hơn là sự tham gia vào hành vi học tập của cha mẹ như kiểm tra bài tập về nhà, và giữ liên lạc với giáo viên nhằm kiểm soát trẻ.
Một nghiên cứu phân tích tổng hợp quy mô lớn trên gần hai triệu học sinh, sinh viên về Các yếu tố ảnh hưởng đến thành tích học tập của học sinh, tác giả Schneider & Preckel (2017) đã chỉ ra điểm chung của các em học sinh có thành tích tốt là: “tự tin vào năng lực của bản thân”, “đã có những thành tích học tập tốt”, “thông minh”, “tận tâm”, “chiến lược học tập phù hợp”. Trong đó tác giả đặc biệt nhấn mạnh yếu tố “tự tin vào năng lực bản thân” được cho là có tác động rất lớn đến thành tích học tập. Cụ thể, khi quá tự tin, cho rằng bản thân thừa sức có thể làm một việc nào đó có thể khiến trẻ không nỗ lực, không nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ. Ngược lại, khi học sinh cho rằng nhiệm vụ là quá khó thực hiện sẽ dễ xuất hiện suy nghĩ chán nản, tự ti, cho rằng mình không thể làm được.
Sự tự tin vào năng lực bản thân vừa đủ khiến trẻ có động cơ học tập tốt, trẻ nỗ lực, cố gắng hết sức để phát huy hết khả năng, vì vậy thường đạt được thành tích cao trong học tập và làm việc. Tác giả cũng nêu lên các yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự tự tin của trẻ bao gồm “những trải nghiệm về 6 thành công trước đó, sự công nhận của những người xung quanh”, “noi theo hình mẫu”, “sự thuyết phục” và “các phản ứng tâm lý”. Trong đó “sự công nhận” của những người xung quanh, đặc biệt là cha mẹ sẽ giúp cho trẻ có thể giảm được căng thẳng hiệu quả, tự tin hơn vào bản thân, nâng cao khả năng giải quyết vấn đề và cải thiện các mối quan hệ [67]. Cha mẹ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến các quyết định lớn trong cuộc đời của con cái.
Alvin Leung và cộng sự (2011) đã thực hiện nghiên cứu về “Tác động của khác biệt thế hệ về văn hóa và kỳ vọng của cha mẹ đối với những khó khăn trong việc ra quyết định nghề nghiệp của sinh viên đại học” tại ba thành phố ở Trung Quốc (n=1342). Tác giả nhận định sự khác biệt về văn hóa giữa các thế hệ và những kỳ vọng không phù hợp với năng lực của con có liên quan đến sự khó khăn hơn trong việc ra quyết định nghề nghiệp đối với sinh viên ở các thành phố. Có thể nhận thấy rằng, kỳ vọng của cha mẹ là rất quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến đời sống của trẻ ở nhiều phương diện khác nhau. Dựa trên nền tảng kiến thức, quan điểm của mình, cha mẹ thông qua việc yêu thương, chăm sóc, dạy dỗ con cái đã tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến trẻ, góp phần trong sự hình thành, phát triển nhân cách, trí tuệ và định hướng tương lai.
Nhiều tác giả cũng có đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến kỳ vọng của cha mẹ đối với con cái họ như: hoàn cảnh kinh tế gia đình, nghề nghiệp, trình độ học vấn, và độ tuổi của cha mẹ. Wang và cộng sự (2016) đã tiến hành nghiên cứu về “Tình trạng kinh tế gia đình và sự tham gia của cha mẹ; liên quan giữa kỳ vọng của cha mẹ và nhận thức”. Nghiên cứu được tiến hành trên một mẫu lớn có thu nhập thấp từ vùng Tây Bắc Trung Quốc trên 12724 cặp bố mẹ và con, kết quả cho thấy tác động rõ ràng giữa tình trạng kinh tế gia đình và trình độ học vấn của cha mẹ với sự tham gia giáo dục của cha mẹ cũng như sự kỳ vọng về tương lai và thành công của con cái. Quả thật, khi các nhu cầu cơ bản về cơm, áo, gạo, tiền trong gia đình không được đảm bảo, cha mẹ phải lo vật lộn kiếm sống, lo sao cho đủ ăn, đủ mặc thì sẽ không còn nhiều thời gian và công sức để phát triển những năng lực vốn quý của trẻ và vì thế sự gắn chặt, ràng buộc vào 7 gia đình trở thành mục tiêu để đảm bảo sự an toàn, sống còn cho mỗi cá thể (Larsen & Lê Văn Hảo, 2015).
Nhận định này cũng được D. Sam (2013) nhấn mạnh khi thực hiện nghiên cứu “Sự khác biệt về kỳ vọng của cha mẹ liên quan đến nền tảng văn hóa, giới tính và vị trí anh chị em ruột trong gia đình”. Cuộc điều tra được thực hiện trên các sinh viên đại học người Trung Quốc đang học tập tại Ma Cao. 344 sinh viên đã hoàn thành một bảng câu hỏi bao gồm các thước đo về kỳ vọng của cha mẹ và nỗi lo lắng về tâm lý, cũng như thông tin về giới tính, thứ tự con cái trong gia đình và nền tảng văn hóa của họ (Trung Quốc Đại lục hoặc Ma Cao).
Những người tham gia sinh ra ở Trung Quốc đại lục cho biết rằng kỳ vọng của cha mẹ họ cao hơn đáng kể so với sinh viên đến từ Ma Cao. Trái với dự đoán, không có bằng chứng về sự khác biệt trong kỳ vọng của cha mẹ liên quan đến giới tính hoặc là thứ tự anh chị em trong gia đình. Những phát hiện này được thảo luận về những thay đổi trong giá trị gia đình và thái độ của cha mẹ trong xã hội Trung Quốc trong vài thập kỷ qua, là cơ sở để đưa ra các khuyến nghị và chính sách về việc cải thiện tình trạng kinh tế - xã hội cho người dân, bởi đây là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến thành tích chung trong tương lai của trẻ. Hầu hết cha mẹ chịu ảnh hưởng trong cách nuôi dạy con cái của chính cha mẹ mình, họ có thể chấp nhận và làm theo nhưng cũng có thể loại bỏ, bài trừ cách làm mà họ cho là không phù hợp [10].
Trong 4 phong cách làm cha mẹ cơ bản (Baumrind,1967; Maccoby &Martin,1983), cha mẹ nuôi con kiểu độc đoán và có thẩm quyền dành nhiều kỳ vọng dành cho con hơn là nuôi con kiểu dễ dãi và kiểu phớt lờ. Trong nuôi dạy con kiểu độc đoán, con cái phải tuân theo những quy tắc nghiêm ngặt mà cha mẹ thiết lập. Khi không tuân theo quy luật thường sẽ dẫn đến hình phạt và thường thì phụ huynh độc đoán không giải thích được lý do đằng sau những quy tắc này. Theo Baumrind, những bậc cha mẹ này “có khuynh hướng mong đợi mệnh lệnh của họ được tuân theo mà không cần giải thích”.