Luận án tiến sĩ so sánh sự phát triển tâm thần vận động của trẻ đơn thai đủ tháng sinh ra từ chƣơng trình hỗ trợ sinh sản với trẻ sinh ra do mang thai tự nhiên

Luận án tiến sĩ nghiên cứu so sánh sự phát triển tâm thần vận động của trẻ đơn thai đủ tháng sinh ra từ chƣơng trình hỗ trợ, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng

Chuyên ngành

Sản Phụ Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2019

181
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. TTON và sự phát triển chuyên ngành này tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Tiêu chuẩn nhận mẫu

2.4. Tiêu chuẩn loại trừ

2.5. Biến số nghiên cứu

2.6. Phương pháp tiến hành

2.7. Thu thập số liệu

2.8. Xử lý và phân tích thống kê

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

3.2. Đặc điểm phát triển tâm thần vận động ở trẻ giữa nhóm sinh ra bằng phương pháp TTON với nhóm mang thai tự nhiên

3.3. Đặc điểm phát triển về thể chất ở trẻ giữa nhóm sinh ra bằng phương pháp TTON với nhóm mang thai tự nhiên

3.4. Đặc điểm phát triển tâm thần-vận động, thể chất giữa trẻ sinh ra bằng phương pháp TTON theo phương pháp chuyển phôi tươi và phôi trữ

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Thiết kế nghiên cứu

4.2. Mẫu nghiên cứu và tính đại diện của mẫu

4.3. Sử dụng phương pháp Propensity score matching (PSM) trong phân tích thống kê

4.4. Chọn lựa bộ công cụ tin cậy để thăm khám bé

4.5. Tính giá trị của phương pháp lượng giá (công cụ/con người)

4.6. Đặc điểm mẫu nghiên cứu

4.7. Sự phát triển tâm thần vận động của trẻ TTON

4.8. Sự phát triển thể chất trẻ TTON

4.9. Điểm mạnh và điểm hạn chế của đề tài nghiên cứu

4.10. Giá trị ứng dụng của nghiên cứu

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Phiếu thu thập dữ liệu

Phụ lục 2. Thư mời khám

Phụ lục 3. Phiếu thông tin và chấp thuận tham gia nghiên cứu

Phụ lục 4. Phiếu mục độ và phiếu khám Brunet-Lézine

Phụ lục 5. Ví dụ bảng kết quả đánh giá sự phát triển tâm lý vận động trẻ

Phụ lục 6. Bộ dụng cụ khám

Phụ lục 7. Hình nguyên bản

Phụ lục 8. Các văn bản pháp lý

Phụ lục 9. Hình ảnh minh họa hoạt động nghiên cứu

Phụ lục 10. Số liệu và danh sách 935 bé khám trong mẫu nghiên cứu

Phụ lục 11. Công cụ khám tâm thần vận động trẻ: ASQ, Denver, Vineland-II, Bayley-III

Phụ lục 12. Kết quả so sánh phân tầng theo nhóm tuổi

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển tâm thần vận động

Sự phát triển tâm thầnvận động trẻ em là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ. Nghiên cứu này tập trung vào việc so sánh sự phát triển tâm thần vận động của trẻ sinh ra từ chương trình hỗ trợ sinh sản (HTSS) và trẻ sinh ra từ mang thai tự nhiên. Theo ước tính, khoảng 8-12% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản gặp phải tình trạng hiếm muộn, dẫn đến nhu cầu ngày càng cao về các phương pháp hỗ trợ sinh sản. Việc hiểu rõ sự phát triển của trẻ sinh ra từ HTSS so với trẻ sinh tự nhiên sẽ giúp các chuyên gia y tế có cái nhìn sâu sắc hơn về ảnh hưởng của các phương pháp này đến sự phát triển của trẻ.

1.1. Đặc điểm phát triển tâm thần vận động

Nghiên cứu cho thấy rằng sự phát triển tâm thần vận động ở trẻ em có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm cả phương pháp sinh. Trẻ sinh ra từ HTSS có thể gặp phải một số vấn đề về phát triển do các can thiệp y tế trong quá trình thụ tinh. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng trẻ sinh ra từ HTSS có chỉ số phát triển tâm thần thấp hơn so với trẻ sinh tự nhiên. Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm này. Điều này cho thấy cần có thêm nhiều nghiên cứu để làm rõ vấn đề này.

II. So sánh phát triển giữa trẻ sinh từ hỗ trợ sinh sản và mang thai tự nhiên

Việc so sánh sự phát triển giữa trẻ sinh từ HTSS và trẻ sinh tự nhiên là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu y học. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng có sự khác biệt trong sự phát triển tâm thầnvận động giữa hai nhóm trẻ. Trẻ sinh từ HTSS thường có chỉ số phát triển thấp hơn, đặc biệt là trong các lĩnh vực như ngôn ngữ và vận động. Điều này có thể liên quan đến các yếu tố như tuổi mẹ, tình trạng sức khỏe và các can thiệp y tế trong quá trình thụ tinh. Việc hiểu rõ những khác biệt này sẽ giúp các bác sĩ và chuyên gia y tế có thể đưa ra các biện pháp can thiệp sớm và hiệu quả hơn cho trẻ.

2.1. Tác động của môi trường đến sự phát triển

Môi trường sống và sự chăm sóc của gia đình có tác động lớn đến sự phát triển tâm thầnvận động của trẻ. Trẻ sinh ra từ HTSS có thể gặp phải những khó khăn trong việc hòa nhập xã hội do thiếu hụt về mặt tâm lý. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự phát triển tâm lý trẻ em có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như sự hỗ trợ từ gia đình, môi trường học tập và các hoạt động xã hội. Do đó, việc tạo ra một môi trường tích cực và hỗ trợ cho trẻ là rất quan trọng để đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ.

III. Giá trị ứng dụng của nghiên cứu

Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin quan trọng về sự phát triển tâm thần vận động của trẻ sinh ra từ HTSS mà còn có giá trị ứng dụng cao trong thực tiễn. Các chuyên gia y tế có thể sử dụng những kết quả này để cải thiện các chương trình chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, đặc biệt là những trẻ sinh ra từ HTSS. Việc hiểu rõ sự phát triển của trẻ sẽ giúp các bác sĩ có thể đưa ra các biện pháp can thiệp sớm, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho trẻ. Hơn nữa, nghiên cứu cũng góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của sự phát triển tâm thầnvận động ở trẻ em.

3.1. Đề xuất các biện pháp can thiệp

Dựa trên những phát hiện từ nghiên cứu, các biện pháp can thiệp có thể được đề xuất nhằm hỗ trợ sự phát triển tâm thầnvận động cho trẻ sinh ra từ HTSS. Các chương trình giáo dục sớm, các hoạt động thể chất và sự hỗ trợ tâm lý từ gia đình là những yếu tố quan trọng giúp trẻ phát triển tốt hơn. Ngoài ra, việc theo dõi và đánh giá sự phát triển của trẻ cũng cần được thực hiện thường xuyên để phát hiện sớm các vấn đề và có biện pháp can thiệp kịp thời.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ so sánh sự phát triển tâm thần vận động của trẻ đơn thai đủ tháng sinh ra từ chƣơng trình hỗ trợ sinh sản với trẻ sinh ra do mang thai tự nhiên

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Theo ƣớc tính, có khoảng 8-12 % các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản chịu ảnh hƣởng bởi tình trạng hiếm muộn [72, 73]. Tình trạng này đƣợc xếp thứ 5 trong các bệnh lý khiếm khuyết của dân số toàn cầu ở độ tuổi dƣới 60 [48]. Giải quyết vấn đề này không những là giải quyết sự khao khát thiêng liêng của một gia đình mà còn là giải quyết một vấn đề lớn về sức khỏe sinh sản cho dân số nói chung. Sự kiện Louis Brown, em bé đầu tiên đƣợc ra đời bằng phƣơng pháp thụ tinh trong ống nghiệm (TTON) vào năm 1978, đã mở ra một giai đoạn mới, giai đoạn phát triển của chuyên ngành hỗ trợ sinh sản (HTSS).

HTSS là giải pháp hữu hiệu cho các cặp vợ chồng hiếm muộn và cho đến nay đã có hơn 4 triệu em bé ra đời bằng phƣơng pháp này [72]. Chƣơng trình TTON đã và đang phát triển một cách mạnh mẽ và nhanh chóng trên toàn thế giới. Ở thời điểm năm 2010, đã có hơn phân nửa quốc gia của thế giới đã phát triển dịch vụ TTON [57]. Tuy nhiên, TTON là giải pháp can thiệp vào sự sống.

TTON càng phát triển, càng có thêm nhiều kĩ thuật cải thiện tỉ lệ thành công nhƣng can thiệp càng nhiều. Nếu nhƣ trong tự nhiên để thụ tinh, tinh trùng phải tự bơi đến kết hợp với noãn thì trong điều trị TTON tinh trùng có thể đƣợc bắt bằng kim đâm xuyên vào noãn (kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tƣơng noãn). Chính vì vậy sau TTON có nhiều vấn đề cần quan tâm nhƣ: bất thƣờng di truyền, sanh non, các vấn đề tiền sản, chậm phát triển,…[84]. Một đứa bé muốn hòa nhập xã hội và phát triển thì phải có sự phát triển bình thƣờng về tâm thần, xã hội, vận động.

Đây là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sức khỏe và cũng đƣợc dùng để đánh giá độ an toàn của chƣơng trình TTON. Năm 1998, kết quả một nghiên cứu đƣợc công bố, trong đó chỉ số phát triển tâm thần ở nhóm trẻ tiêm tinh trùng vào bào tƣơng noãn (ICSI) thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm mang thai thụ thai tự nhiên [ICSI 95,9 (SD 10,7)], tự nhiên 102. luan an 2 Knoester và cộng sự cũng báo cáo kết quả xấu tƣơng tự [62]. Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại cho kết quả không khác biệt, ví dụ Place và cộng sự báo cáo kết quả tâm vận động và phát triển trí tuệ của bé thụ thai bằng phƣơng pháp ICSI tƣơng tự với bé IVF và bé mang thai tự nhiên [74].

Tại Việt Nam, chƣơng trình TTON bắt đầu từ năm 1997, đến nay có đến 34 trung tâm TTON ra đời. Hơn 20 năm trôi qua, hiện nay ch ng ta đã có thể làm đƣợc hầu hết các kỹ thuật tiên tiến trên thế giới trong lãnh vực HTSS với tỉ lệ thành công ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, một câu hỏi vẫn thƣờng đƣợc bệnh nhân đặt ra trên thực tế là “Có sự khác biệt nào giữa thai tự nhiên và thai TTON không?”. Hay em bé TTON có phát triển bình thƣờng không?” Liên quan đến vấn đề này, năm 2005, Bệnh viện Từ Dũ đã thực hiện một khảo sát với 221 bé từ 12 tháng tuổi đến 6 tuổi.

Đây là khảo sát không tính cỡ mẫu, không nhóm chứng. Kết quả cho thấy tỷ lệ chậm phát triển tâm lý và vận động ở trẻ sinh 1 và sinh 2 ở mức bình thƣờng, có vẻ cao hơn ở trẻ sinh 3, sinh 4. Ngày nay, trong một nền TTON hiện đại, việc thực hiện một nghiên cứu với cỡ mẫu lớn, thiết kế chặt chẽ để có thể trả lời câu hỏi này tại Việt Nam là rất cần thiết. Thứ nhất đây là nhu cầu thực tiễn cần biết của bệnh nhân, chuyên gia điều trị, và cộng đồng chăm sóc sức khỏe.

Thứ hai, TTON hiện đại đã khác với TTON ban đầu nhờ ứng dụng nhiều kỹ thuật can thiệp một cách rộng rãi. Thứ ba, có nhiều thời điểm để nghiên cứu trẻ nhƣng ba năm đầu đời là khoảng thời gian rất quan trọng vì não phát triển rất nhanh, mang đến khả năng học tập sớm của trẻ, nếu trẻ đƣợc chăm sóc hỗ trợ tốt sẽ có phát triển nhận thức tốt khi trở thành ngƣời lớn. Bên cạnh đó, với sự phát triển y học hiện đại, phát hiện nguy cơ trẻ chậm phát triển và can thiệp sớm có thể sữa chữa hoặc cải thiện khả năng phát triển của trẻ [17, 44]. Với câu hỏi nghiên cứu: “Có sự khác biệt về sự phát triển tâm thần vận động và thể chất của trẻ TTON so với trẻ mang thai tự nhiên giai đoạn 5- 30 tháng tuổi không?”, chúng tôi tiến hành nghiên cứu so sánh sự phát triển tâm thần, vận động và thể chất của trẻ sinh ra bằng phƣơng pháp TTON so với trẻ mang thai tự nhiên tại Bệnh viện Từ Dũ từ năm 2016 đến năm 2018.

luan an 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu chính 1. So sánh sự phát triển tâm thần-vận động ở trẻ đơn thai, đủ tháng giữa nhóm sinh ra từ chƣơng trình hỗ trợ sinh sản với nhóm mang thai tự nhiên từ 5-30 tháng tuổi tại Bệnh viện Từ Dũ. Mục tiêu phụ 2. So sánh các chỉ số về thể chất ở trẻ đơn thai, đủ tháng giữa nhóm sinh ra từ chƣơng trình hỗ trợ sinh sản với nhóm mang thai tự nhiên từ 5-30 tháng tuổi tại Bệnh viện Từ Dũ.

So sánh sự phát triển tâm thần-vận động, thể chất giữa trẻ sinh ra bằng phƣơng pháp TTON theo phƣơng pháp chuyển phôi tƣơi và phôi trữ từ 5-30 tháng tuổi tại Bệnh viện Từ Dũ. luan an 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN 1.1 TTON và sự phát triển chuyên ngành này tại Việt Nam 1.1 Giới thiệu về TTON Mong ƣớc có con là một nhu cầu cơ bản của tất cả mọi ngƣời, là một khao khát thiêng liêng của ngƣời trƣởng thành và cũng là một phần kế hoạch không thể thiếu trong cuộc sống. Tuy nhiên theo ƣớc tính, hiếm muộn đang tác động vào khoảng 186 triệu ngƣời trên thế giới [57], chiếm tỉ lệ 8-12% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản [73], 9% trong dân số trung bình toàn cầu [29]. Bên cạnh đó trong một khảo sát của WHO, hiếm muộn đƣợc nhận định là sự suy yếu rõ rệt về mặt chức năng và đƣợc xếp thứ 5 trong danh sách các bệnh lý khiếm khuyết của dân số toàn cầu ở đối tƣợng dƣới 60 tuổi [48].

Điều này cũng tƣơng đồng với các khảo sát thống kê toàn cầu cho thấy hiếm muộn đang là vấn đề của sức khỏe sinh sản [57]. Sự phát triển của chuyên ngành hỗ trợ sinh sản (HTSS) mà cụ thể là TTON, đƣợc đánh dấu bằng sự ra đời thành công của em bé TTON đầu tiên, Louise Brown, đã và đang tích cực làm giảm gánh nặng cho các bệnh nhân và gia đình hiếm muộn. HTSS đƣợc định nghĩa là bao gồm tất cả các phƣơng cách điều trị hiếm muộn liên quan đến xử lý cả noãn và tinh trùng, cụ thể nhƣ lấy noãn ra khỏi cơ thể, kết hợp tinh trùng trong lab tạo phôi, đƣa phôi vào cơ thể ngƣời nữ… Không bao gồm các kỹ thuật chỉ xử lý tinh trùng hoặc dùng thuốc kích thích mà không chọc hút noãn [37]. Riêng TTON là kĩ thuật thực hiện thụ tinh bên ngoài cơ thể, có thể ứng dụng cho noãn và tinh trùng tự thân của vợ và chồng hoặc noãn cho, hoặc tinh trùng cho hoặc cả hai [56].

Việc ứng dụng điều trị bằng phƣơng pháp TTON có thể giúp chúng ta giải quyết đƣợc nhiều nguyên nhân hiếm muộn thay vì chỉ giải quyết tình trạng hiếm muộn do tắc nghẽn hai vòi trứng nhƣ sự mong muốn ban đầu khi TTON ra đời [90]. Theo HFEA, một tổ chức uy tín của chính phủ Anh đƣợc thành lập nhằm theo dõi quản lý tất cả các trung tâm TTON trong nƣớc, đã liệt kê các nguyên nhân hiếm muộn và các chỉ định điều trị TTON nhƣ sau: luan an 5 Nguyên nhân hiếm muộn [54] Chỉ định TTON [55] Do nữ  Hiếm muộn không rõ nguyên nhân  Tắc nghẽn vòi trứng  Tắc nghẽn vòi trứng  Kích thích buồng trứng có hoặc không  Các vấn đề về phóng noãn bơm tinh trùng vào buồng tử cung  Lạc nội mạc tử cung (IUI) nhiều lần thất bại  Các bệnh lý ảnh hƣởng tử cung  Hội chứng buồng trứng đa nang, nguy  Nhiều yếu tố kết hợp cơ quá kích buồng trứng quá cao khi  Không rõ nguyên nhân sử dụng thuốc kích thích buồng trứng  Lớn tuổi, giảm dự trữ buồng trứng  Các vấn đề hiếm muộn nam giới, tinh  Hội chứng buồng trứng đa trùng ít, yếu, dị dạng, phải thực hiện  Các vấn đề phụ khoa: tiền căn thai thủ thuật, phẫu thuật để lấy tinh trùng ngoài tử cung, …  Sử dụng tinh trùng cho hoặc tinh  Lối sống: thừa cân, thiếu cân, stress, trùng trữ, không phù hợp cho IUI h t thuốc,…  Sử dụng noãn cho hoặc noãn trữ Do nam  Sàng lọc các bệnh lý di truyền phôi,  Số lƣợng, chất lƣợng tinh trùng thấp chọn lựa phôi chuyển tránh các bệnh  Các vấn đề về sự sinh tinh, ống dẫn lý di truyền của cha mẹ để cho ra đời tinh, sự cƣơng dƣơng, sự xuất tinh em bé khỏe mạnh  Các vấn đề về di truyền  Mang thai hộ.  Sau điều trị thuốc, xạ trị, phẫu thuật  Lối sống: thừa cân, nghề nghiệp tiếp x c tia xạ,… Nhƣ vậy, TTON có thể ứng dụng điều trị cho đa số các bệnh lý hiếm muộn. Thật vậy, vào năm 2010, thế giới đã có khoảng bốn triệu em bé ra đời bằng phƣơng pháp TTON.

Louise Brown và các bé TTON khác đã sinh con. Robert Edwards, cha đẻ của kỹ thuật TTON, đã đƣợc trao giải Nobel cho sự phát triển kỹ thuật TTON luan an 6 (hình 1. Đây là các bằng chứng mạnh mẽ về sự thành công và hiệu quả của chƣơng trình TTON [72]. Sinh sản tự nhiên 4.

Phóng noãn 1.Quá trình trƣởng thành trứng Thụ tinh ống nghiệm 3. Công trình TTON nhận giải Nobel. “Nguồn: Nobel prize, 2010” [72].1 Sự phát triển TTON tại Việt Nam Tại Việt Nam, chƣơng trình TTON bắt đầu đƣợc thực hiện từ 1997. Bệnh viện Từ Dũ là đơn vị đầu tiên trong cả nƣớc thực hiện kỹ thuật HTSS và cũng là một trong những trung tâm TTON lớn nhất Việt Nam với hơn 60 ngàn lƣợt khám và 2000-2500 chu kỳ điều trị TTON (số liệu Bệnh viện Từ Dũ) mỗi năm.

Và tại Việt Nam, từ một trung tâm TTON ban đầu (1997), hiện nay đã có 34 trung tâm TTON trên toàn quốc với 17 trung tâm ở miền Bắc, 6 trung tâm ở miền Trung và 11 trung luan an 7 tâm ở miền Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "So sánh phát triển tâm thần vận động trẻ sinh từ hỗ trợ sinh sản và mang thai tự nhiên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự khác biệt trong phát triển tâm thần vận động của trẻ em được sinh ra từ các phương pháp hỗ trợ sinh sản so với những trẻ được sinh ra từ quá trình mang thai tự nhiên. Tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ, từ đó giúp cha mẹ và các chuyên gia y tế hiểu rõ hơn về những thách thức và cơ hội mà trẻ có thể gặp phải. Bài viết không chỉ mang lại thông tin hữu ích mà còn khuyến khích độc giả suy nghĩ về các phương pháp chăm sóc và giáo dục trẻ em một cách toàn diện hơn.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về tâm lý học và sự phát triển của trẻ vị thành niên, hãy tham khảo bài viết Luận văn thái độ bàng quan gia đình trẻ vị thành niên tâm lý học. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của gia đình đến sự phát triển tâm lý của trẻ, từ đó có thể áp dụng những kiến thức này vào việc nuôi dạy và hỗ trợ trẻ em trong giai đoạn phát triển quan trọng này.