Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái niệm về pháp luật quản trị công ty cổ phần 1. Khái niệm quản trị công ty Quản trị công ty là hệ thống các quy định của pháp luật, các quy tắc và thiết chế nhằm đảm bảo cho một công ty được quản lý và vận hành một cách có hiệu quả vì lợi ích của công ty, các thành viên của công ty, các bên liên quan, của cộng đồng và toàn xã hội. Các định nghĩa về QTCT rất đa dạng.
Định nghĩa QTCT có thể khác nhau tùy thuộc vào mô hình QTCT được một quốc gia áp dụng. Ngoài ra, các định nghĩa còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng công ty, các quốc gia và hệ thống pháp luật của quốc gia nơi công ty đặt trụ sở và hoạt động. Ví dụ, định nghĩa sẽ tập trung vào “mô hình QTCT cổ đông” ở các nước Anglo-Saxon hay tập trung vào “mô hình QTCT của các bên liên quan” ở các nước theo mô hình châu Âu lục địa và Nhật Bản. Một trong những định nghĩa được sử dụng nhiều nhất và sớm nhất về QTCT được trình bày bởi Sir Adrian Cadbury, người đứng đầu Ủy ban về các vấn đề tài chính của QTCT ở Anh.
Trong báo cáo của mình, ông định nghĩa QTCT là hệ thống mà công ty được chỉ đạo và kiểm soát và thông qua đó HĐQT chịu trách nhiệm quản lý các công ty của họ. Ông cũng giải thích vai trò của cổ đông trong quản trị như bổ nhiệm các giám đốc, kiểm toán viên và để thỏa mãn bản thân họ về một cơ cấu quản trị phù hợp [10, tr. Báo cáo này sau đó được gọi là “Cadbury Report”, và trở nên nổi tiếng trong việc đặt ra các yêu cầu QTCT đối với các công ty niêm yết ở Anh. Rõ ràng, định nghĩa này đã được chấp nhận vào thời điểm đó, nhưng kể từ đó đã có nhiều thay đổi và cũng có nhiều quan điểm khác về bản chất của QTCT.
Định nghĩa Sir Adrian Cadbury đã được mở rộng và ông chỉ ra rằng: QTCT liên quan đến việc giữ được thế cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế và xã hội và giữa các mục tiêu cá nhân và cộng đồng. Khuôn khổ QTCT ở đó để 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khuyến khích việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đồng thời để quy định trách nhiệm về quản lý các nguồn lực nhằm mục đích hướng tới, gần nhất có thể, các lợi ích của cá nhân, công ty và xã hội [26]. Nhà khoa học kinh tế Monks và Minow, những người tiên phong trong QTCT định nghĩa QTCT trong cuốn sách của họ như là mối quan hệ giữa các bên tham gia như TGĐ điều hành, ban quản lý, các cổ đông và người lao động, những người được cho là rất quan trọng trong việc quyết định định hướng và hiệu quả hoạt động của công ty [35]. Định nghĩa này cũng tập trung vào mối quan hệ giữa những người tham gia QTCT nhưng bỏ qua các yếu tố khác quyết định đến hiệu quả hoạt động của công ty như tài chính và xã hội.
Shleifer và Vishny đưa ra một định nghĩa tiến bộ hơn bằng cách cụ thể hơn đến việc cung cấp tài chính, xem xét việc bảo vệ các nhà đầu tư bên ngoài khỏi việc chiếm đoạt các nguồn lực tài chính của họ bởi công ty. Định nghĩa chỉ ra rằng: QTCT đề cập đến những cách thức mà các nhà cung cấp tài chính cho các công ty đảm bảo mình nhận được một khoản lợi nhuận từ việc đầu tư. Làm thế nào để họ đảm bảo rằng các nhà quản lý không lấy đi khoản vốn mà họ cung cấp hoặc đầu tư vào các dự án không tốt và bằng cách nào để các nhà cung cấp tài chính kiểm soát các nhà quản lý [41]. Theo IFC, QTCT là “những cơ cấu và những quá trình để định hướng và kiểm soát công ty”.
Vào năm 1999, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD – Organization for Economic Cooperation and Development) đã xuất bản một tài liệu mang tên “Các nguyên tắc Quản trị công ty” (OECD Principles of Corporate Governance), trong đó đưa ra một định nghĩa chi tiết hơn về QTCT như sau: QTCT là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa ban giám đốc, HĐQT và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan. QTCT cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty. QTCT chỉ được cho là có hiệu quả khi khích 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lệ được Ban giám đốc và HĐQT theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn [5, tr. Theo pháp luật Việt Nam, bộ máy CTCP được cơ cấu theo luật pháp và điều lệ công ty với nguyên tắc cơ cấu nhằm đảm bảo tính chuẩn mực, minh bạch và hoạt động có hiệu quả.
Điều 95 LDN 2005 quy định: CTCP có ĐHĐCĐ, HĐQT và GĐ hoặc TGĐ. Đối với CTCP có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của Công ty phải có BKS. Quyết định số 12 ngày 13/03/2007 của Bộ tài Chính ban hành về quy chế QTCT định nghĩa: QTCT là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty. Các nguyên tắc QTCT bao gồm: (1) Đảm bảo một cơ cấu quản trị hiệu quả; (2) Đảm bảo quyền lợi của cổ đông, đối xử công bằng giữa các cổ đông; (3) Đảm bảo vai trò của những người có quyền lợi liên quan đến công ty; (4) Minh bạch trong hoạt động của công ty; (5) HĐQT và BKS lãnh đạo và kiểm soát công ty có hiệu quả [1].
Cách hiểu khái niệm QTCT như trên tương đối phù hợp với thông lệ quốc tế tốt nhất (best practices) về QTCT. Ở đây, cần lưu ý rằng QTCT không chỉ liên quan đến cổ đông mà còn chi phối và ảnh hưởng đến các bên liên quan đến công ty. Vì vậy, các công ty (dù là niêm yết hay chưa niêm yết), khi xây dựng quy chế QTCT (đôi khi, gọi là các nguyên tắc QTCT - corporate governance principles), cần hết sức lưu ý đến những người liên quan đến công ty, bao gồm cổ đông, khách hàng, đối tác, chủ nợ, nhân viên, các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng. Đối với Ả Rập Xê Út, mặc dù Ủy ban Cơ quan Ban thị trường vốn đã ban hành Quy chế QTCT, Quy chế này vẫn không có một định nghĩa về QTCT.
Vì vậy, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các định nghiã nổ i tiế ng về QTCT như báo cáo Cadbury và các nguyên tắc QTCT của OECD được đề xuấ t sử dụng. Cụ thể, các định nghĩa này là những hình thức phổ biến nhất của QTCT trên thế giới. Đặc biệt, báo cáo Cadbury là một ví dụ điể n hình vì nó là báo cáo QTCT đầu tiên được đánh giá cao ta ̣i Anh và trên thế giới. Không thể phủ nhâ ̣n rằng báo cáo Cadbury như là một bô ̣ phâ ̣n của quy định về những vấ n đề QTCT mang những tiêu chí rõ ràng và nổ i bâ ̣t.
Báo cáo Cadbury thực sự là Ủy ban QTCT tố i cao của Anh Quố c trong viê ̣c đưa ra các đề xuấ t và khuyến nghị có giá trị để điều chỉnh nhiều vấn đề thiế t yế u của QTCT bao gồm quyề n của các cổ đông, nghĩa vụ và trách nhiệm của HĐQT và các tiểu ban của nó. Mặt khác, nhiê ̣m vu ̣ của Ngân hàng Thế giới về QTCT tập trung vào các nguyên tắc QTCT của OECD liên quan đến việc duy trì quyền của các cổ đông, hoạt động của các bên liên quan, yêu cầ u về minh bạch và công bố thông tin và trách nhiệm của HĐQT. Ngoài ra, các hoa ̣t đô ̣ng của Ngân hàng Thế giới trong viê ̣c khuyến khích các thực tiễn về QTCT có thể thấy ở các nỗ lực của Ngân hàng trong việc thu thập thông tin về thực tiễn QTCT của mỗi quốc gia cũng như cung cấp khuôn khổ QTCT cho mỗi quốc gia. Sau đó thông tin được khai thác để xây dựng quy chế và thông lê ̣ QTCT ở mỗi quốc gia thông qua các kế hoa ̣ch cải thiện công viê ̣c, hội nghị khoa học và mức độ hỗ trợ theo yêu cầ u thực tế của mỗi quốc gia.
Cụ thể , triển vọng QTCT Ả Rập Xê Ú t được xây dựng trên, và hiê ̣n tập trung vào các nguyên tắc QTCT của OECD liên quan đế n viê ̣c ban hành và thực hiện các quy định của QTCT. Theo đó, Ủy ban Cơ quan thị trường vốn được đề nghị dựa vào sự định nghĩa này khi xây dựng một định nghĩa riêng cho min ̀ h. Sự cần thiết, ý nghĩa và vai trò của quản trị công ty cổ phần QTCT là việc phân bổ, thực thi quyền lực và giám sát việc thực thi quyền lực trong công ty hướng tới sử dụng một cách có hiệu quả nhất nguồn lực của công ty đảm bảo lợi ích tối đa và công bằng cho các cổ đông và các bên liên quan. Tình trạng hoạt động của doanh nghiệp phản ánh vai trò của quản trị, nếu một doanh nghiệp phát triển thì doanh nghiệp đó có bộ máy quản trị tốt và ngược lại.
Khi nói đến nguyên nhân sự phá sản của các doanh nghiệp thì có thể có nhiều 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguyên nhân, nhưng nguyên nhân hàng đầu thường vẫn là quản trị kém hiệu quả, hay nhà quản trị thiếu khả năng. Trong cùng hoàn cảnh như nhau, nhưng người nào biết tổ chức các hoạt động quản trị tốt hơn, khoa học hơn, thì triển vọng đạt kết quả sẽ chắc chắn hơn. Đặc biệt quan trọng không phải chỉ là việc đạt kết quả mà sẽ còn là vấn đề ít tốn kém thì giờ, tiền bạc, nguyên vật liệu và nhiều loại phí tổn khác hơn, hay nói cách khác là có hiệu quả hơn. Không có các hoạt động QTCT, doanh nghiệp sẽ không biết phải làm gì, làm lúc nào, công việc sẽ diễn ra một cách lộn xộn.