Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Những vấn đề lý luận về quản trị công ty cổ phần 1. Khái luận về quản trị công ty cổ phần Lý luận về quản trị công ty Hiện nay trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản trị công ty. Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “quản trị công ty” đƣợc vay mƣợn từ chữ “corporate governance”.
Thuật ngữ “corporate governance” xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào năm 1920, với mục đích làm rõ sự phân chia giữa quyền sở hữu và quyền quản lý trong các công ty hiện đại, khi hình thức sở hữu hiện vật chuyển thành hình thức sở hữu cổ phần, còn các nhà quản trị chuyên nghiệp thay thế cho các kiểu quản trị gia đình [22, tr. Ngày nay, thuật ngữ “corporate governance” đƣợc biết đến nhƣ một trào lƣu nghiên cứu mới trong kinh tế học và luật học nhằm giải quyết một cách có hệ thống các vấn đề pháp lý, thể chế và thông lệ quản lý của các công ty. Bởi vậy, nó cũng đồng thời là một chủ đề nghiên cứu quan trọng của trƣờng phái kinh tế - luật trong những năm gần đây [9, tr. Về mặt ngôn ngữ, quản trị (governance), là một thuật ngữ đến từ ngôn ngữ La tinh “gubernare” và “gubernator” với nghĩa chỉ cho việc bánh lái một con tàu và thuyền trƣởng của con tàu đó.
Theo đó, quản trị công ty đƣợc hiểu là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty đƣợc định hƣớng điều hành và đƣợc kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của chủ đầu tƣ và những ngƣời liên quan đến công ty [21, tr. Về nội dung, quản trị công ty có thể hiểu theo nghĩa rộng và hẹp. Theo nghĩa hẹp, quản trị công ty thƣờng quan tâm đến (i) Các vấn đề của cấu trúc quản lý của công ty chẳng hạn nhƣ mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị và 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ban giám đốc; (ii) lợi ích hoặc các mục tiêu của các nhóm trong công ty. Theo nghĩa rộng, quản trị công ty thiết lập một tổ hợp các mối quan hệ giữa các bên tham gia vào công ty và các mục tiêu đầy đủ của quản trị công ty đó.
Tuy nhiên, định nghĩa rộng nhất về quản trị công ty đƣợc nhiều nƣớc vận dụng vào xây dựng hệ thống pháp luật về quản trị công ty là của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD trong ấn phẩm “Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD” (The OECD Principles of Corporate Governance) đƣợc sửa đổi và ban hành lại vào năm 2004. Theo đó, OECD cho rằng: Quản trị công ty bao gồm việc thiết lập các mối quan hệ giữa cơ cấu quản lý công ty, hội đồng quản lý công ty, các cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan khác. Quản trị công ty cũng cung cấp cấu trúc mà thông qua đó các mục tiêu của công ty đƣợc thực hiện và những biện pháp để đạt đƣợc những mục tiêu và khả năng giám sát là đƣợc xác định [17, tr. Theo Ngân hàng thế giới (WB): Quản trị công ty là một hệ thống các yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của các công ty.
Nó cho phép công ty có thể thu hút đƣợc các nguồn tài chính và nhân lực, hoạt động có hiệu quả, và nhờ đó tạo ra cá giá trị kinh tế lâu dài cho các cổ đông, trong khi vẫn tôn trọng quyền lợi của những ngƣời có lợi ích liên quan và của xã hội. Đặc điểm cơ bản nhất của một hệ thống quản trị công ty là: (i)Tính minh bạch của các thông tin tài chính, kinh doanh và quá trình giám sát nội bộ đối với hoạt động quản lý, (ii) Bảo đảm thực thi các quyền của tất cả các cổ đông, (iii) các thành viên trong hội đồng quản trị có thể hoàn toàn độc lập trong việc thông qua các quyết định, phê chuẩn kế hoạch kinh doanh, tuyển dụng ngƣời quản lý, trong việc giám sát tính trung thực và hiệu quả của hoạt động quản lý và trong việc miễn nhiệm ngƣời quản lý khi cần thiết [10]. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Quyết định của Bộ Tài chính về việc Ban hành quy chế quản trị Công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán/ Trung tâm giao dịch chứng khoán, thì “quản trị công ty” là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty đƣợc định hƣớng điều hành và đƣợc kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những ngƣời liên quan đến công ty. Các nguyên tắc quản trị công ty bao gồm: Đảm bảo một cơ cấu quản trị hiệu quả; Đảm bảo quyền lợi của cổ đông; Đối xử công bằng giữa các cổ đông; Đảm bảo vai trò của những ngƣời có quyền lợi liên quan đến công ty; Minh bạch trong hoạt động của công ty; Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát lãnh đạo và kiểm soát công ty có hiệu quả” Với cách hiểu trên của Bộ tài chính cho thấy đã tƣơng đối phù hợp với thông lệ Quốc tế tốt nhất về quản trị công ty.
Việc quản trị công ty đƣợc quan tâm trên các mặt một cách đầy đủ chứ không chỉ riêng là vấn đề nội bộ công ty. Nghiên cứu quản trị công ty ta thấy không chỉ liên quan đến các cổ đông mà còn chi phối và ảnh hƣởng đến các bên liên quan đến công ty. Vì vậy, các công ty khi xây dựng quy chế quản trị công ty cần hết sức lƣu ý đến toàn bộ những ngƣời liên quan đến công ty nhƣ: cổ đông, khách hàng, đối tác, chủ nợ, nhân viên, các cơ quan quản lý nhà nƣớc. Hiện nay, thuật ngữ quản trị công ty đƣợc đề cập đến thƣờng xuyên trong hoạt động quản trị của doanh nghiệp nƣớc ta.
Nhất là đối với hình thức công ty cổ phần thì khái niệm này rất đƣợc quan tâm. Do đòi hỏi của pháp luật về doanh nghiệp của nƣớc ta và thực tiễn từ chính các cổ đông và các bên liên quan trong công ty cổ phần. Vì vậy, việc quan tâm và hoàn thiện việc quản trị công ty là vấn đề cần thiết và khá cấp bách trong điều kiện kinh tế hiện nay. Quản trị công ty đề cập đến các cơ cấu và quá trình cho việc định hƣớng và kiểm soát các công ty.
Quản trị công ty liên quan đến mối quan hệ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giữa Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, các cổ đông lớn, các cổ đông nhỏ và những bên có quyền lợi liên quan. Quản trị công ty tốt góp phần vào phát triển kinh tế bền vững do cải thiện đƣợc hoạt động của các công ty và nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài của các công ty đó. Đối với những quốc gia có nền kinh tế thị trƣờng mới nổi, việc tăng cƣờng quản trị công ty có thể phục vụ cho rất nhiều các mục đích chính sách công quan trọng. Lý luận về quản trị công ty cổ phần Khái niệm công ty cổ phần: Công ty cổ phần là một trong bốn loại hình doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
Vì vậy, để tìm hiểu về khái niệm công ty cổ phần, chúng ta tìm hiểu về khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp nói chung. Theo khoản 1, Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 thì doanh nghiệp đƣợc định nghĩa là; “tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [15, Điều 4]. Theo Điều 77 Luật doanh nghiệp năm 2005, công ty cổ phần đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lƣợng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lƣợng tối đa.
Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhƣợng cổ phần của mình cho ngƣời khác, trừ trƣờng hợp đối với cổ đông sở hữu cổ phần ƣu đãi biểu quyết không đƣợc chuyển nhƣợng cổ phần đó cho ngƣời khác và hạn chế quyền tự do chuyển nhƣợng cổ phần phổ thông 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong thời hạn 3 năm kể từ ngày CTCP đƣợc cấp GCN ĐKKD đối với các cổ đông sáng lập theo quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của LDN 2005. Có tƣ cách pháp nhân kể từ ngày đƣợc cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Có quyền phát hành chứng khoán các hoạt động để huy động vốn [15, Điều 77].
Đặc điểm công ty cổ phần Về số lƣợng thành viên: Luật công ty năm 1990, quy định số lƣợng thành viên tối thiểu trong suốt quá trình hoạt động của CTCP là 7 và theo Luật doanh nghiệp 1999 và Luật doanh nghiệp năm 2005 và LDN 2014 thì số lƣợng là 3. Đây là đặc điểm đặc trƣng của công ty cổ phần. Do công ty cổ phần là sự góp vốn của các thành viên với nhau. Về hình thức góp vốn: Vốn điều lệ của công ty đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu, ngƣời mua cổ phiếu gọi là cổ đông, lợi nhuận có đƣợc hàng năm từ cổ phần đƣợc gọi là cổ tức.Việc góp vốn vào công ty cổ phần đƣợc thực hiện bằng hình thức mua cổ phiếu. Các thành viên không quan tâm đến nhân thân ngƣời góp vốn mà chỉ quan tâm tới số tiền họ góp vào công ty. Về huy động vốn: Trong quá trình hoạt động của mình, công ty cổ phần đƣợc quyền phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn theo quy định của pháp luật về phát hành chứng khoán. Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức đặc biệt, năng động, có thể sử dụng để huy động vốn thông qua các giao dịch trên thị trƣờng chứng khoán.
Về chuyển nhƣợng vốn góp: Trong công ty cổ phần, phần vốn góp của các cổ đông đƣợc thể hiện 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dƣới hình thức cổ phiếu. Các cổ đông muốn chuyển nhƣợng một phần hoặc toàn bộ số cổ phiếu của mình trong công ty cổ phần cho các cổ đông khác đều đƣợc thực hiện nếu đáp ứng theo yêu cầu của Điều lệ công ty.