CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP VÀ THỰC TRẠNG TIN HỌC HÓA HỆ THỐNG QUẢN TRỊ NNL TẠI BIDV 1.1 Khái niệm quản trị nhân lực và và các chức năng của quản trị nhân lực. Theo Nguyễn Thị Thanh Bình (2019) quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút,đào tạo - phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho tổ chức lẫn nhân viên. Các chức năng của quản trị nhân lực bao gồm 03 nhóm: 1) Thu hút nguồn nhân lực (phân tích công việc, hoạch định nhân lực, tuyển mộ và tuyển chọn), 2) Đào tạo và phát triển nhân lực, 3) Duy trì nhân lực (đãi ngộ, đánh giá, quan hệ lao động). Ngày nay, theo một số nhà nghiên cứu, quản trị nhân lực còn có nhiều chức năng quan trọng và phức tạp hơn.
Theo McGuire và Jorgensen (2011), quản trị nhân lực có 03 nhóm chức năng chính: 1) Quản trị: những hoạt động tạo nên nền tảng công cụ và hệ thống nhằm thu hút, duy trì và bảo đảm kết quả sử dụng nhân lực; 2) Phát triển: những hoạt động nhằm phát triển chất lượng nhân lực và sự gắn kết bền vững của họ trong tổ chức; 3) Hỗ trợ: những hoạt động hỗ trợ cho người sử dụng lao động và người lao động duy trì được nền tảng cho quản trị và phát triển. Các chức năng của quản trị nhân lực hiện đại (Nguồn: McGuire & Jorgensen, (2011)) 1.2 Tầm quan trọng của công nghệ trong quản trị NNL Ứng dụng của công nghệ trong quản trị nguồn nhân lực Quản trị nguồn lực là lĩnh vực mà các sự thay đổi trong công nghệ có tác động đến một cách mạnh mẽ. Công nghệ đã làm thay đổi vai trò của việc quản lý nguồn nhân lực đến một mức độ lớn hơn. Ngày càng có nhiều chức năng trong bộ phận nhân sự đang được thực hiện bằng cách tin học hóa để nâng cao hiệu quả quản trị.
Công nghệ dựa trên nền tảng Website cũng đang được sử dụng rộng rãi đối với hầu hết các nghiệp vụ thông thường trong việc quản lý nhân sự như chấm công, tính lương, quản lý thông tin nhân viên,… Dựa vào những ý được đề cập ở trên về sự công nghệ hóa cho các hoạt động quản trị nguồn lực, các chuyên viên nhân sự sẽ có được nhiều thời gian hơn cho các vấn đề khác trong công việc của mình. Công nghệ sẽ giúp cho các tổ chức kinh doanh trong việc cải thiện được các phương pháp quản lý thời gian của bộ phận nhân sự của mình và sau đó nâng cao hiệu quả công việc. Tác động của công nghệ lên các nhân viên nhân sự Khi công nghệ thông tin thiết lập được chỗ đứng của nó trong bộ phận nguồn nhân sự, các chuyên viên nhân sự sẽ nắm bắt được các thông tin rõ ràng, minh bạch, và toàn diện hơn. Họ sẽ nhận biết được các khuynh hướng mới nhất trong hoạch 6 định chính sách, các hoạt động tuyển dụng trong ngành.
Ngoài ra, họ cần phải có các thông tin hiện hành về pháp luật và các quy định có liên quan bởi vì điều này giúp các chuyên viên nhân sự thể hiện được sự linh hoạt trong trường hợp có những thay đổi không dự kiến trước. Hơn nữa, những đặc tính này sẽ làm tăng giá trị và sự đóng góp của bộ phận nhân sự cho tổ chức. Vì vậy, để bắt kịp với sự thay đổi luật liên tục, thông tin phải luôn được cập nhật. Công nghệ đã cho phép các các công ty kết nối với internet để tương tác với các chuyên gia trong ngành.
Nó đã giúp nhiều chuyên viên nhân sự trong việc thu thập thông tin mà họ cần phải duy trì để chứng minh các đặc tính mong muốn và khả năng. Những bằng chứng này cũng cho thấy công nghệ đã không chỉ cho phép các chuyên gia nguồn nhân lực để truy cập và phân phối thông tin mà còn có ảnh hưởng đến mong đến của họ.3 Sự phát triển của quản trị nhân lực qua các cuộc cách mạng công nghiệp Trước yêu cầu của cuộc CMCN 4.0, quản trị nhân lực đã và đang thay đổi. Hình 2 cho thấy đặc trưng của các mô hình quản trị nhân lực qua các cuộc CMCN.2 Đặc trưng quản trị nguồn nhân lực qua các cuộc cách mạng công nghiệp Ở cuộc CMCN 3.0, những người làm quản trị nhân lực đã chuyển sang sử dụng bổ sung các kỹ năng mềm như xử lý tài liệu, thu thập và phân tích thông tin, cảnh báo và khuyến nghị chính sách. Internet và các phần mềm hệ thống xuất hiện 7 và dần được áp dụng.
Các tiện ích công nghệ của doanh nghiệp như Website, Intranet, Server cũng đã xuất hiện và phục vụ cho các hoạt động quản trị nhân lực, tuy nhiên chỉ là những biện pháp hỗ trợ mà không được tận dụng như một công cụ hay giải pháp hữu ích. Đến cuộc CMCN 4.0, Internet phát triển mạnh mẽ hơn, lượng thông tin và dữ liệu ngày càng lớn, đa dạng, trở thành nền tảng cho các hoạt động quản trị. Các chức năng của quản trị nhân lực đang được thực hiện với quy mô lớn hơn bằng những cách thông minh hơn, cung cấp được thông tin tổng hợp, trực quan, kịp thời hơn cho các cấp quản trị. Không chỉ sử dụng Internet, Website, Intranet, Server nói chung, việc tuyển dụng, đào tạo đã dần sử dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo.
Phát triển tổ chức và duy trì nguồn nhân lực, truyền thông nội bộ và giao tiếp với xã hội đã sử dụng các công cụ mạng xã hội và phân tích định tính các thông tin (social listening) nhằm cung cấp được những thông tin hữu ích phục vụ việc xây dựng chính sách nhân sự nhanh chóng, phù hợp hơn. Nhìn chung CMCN 4.0 với đặc trưng của nền kinh tế số dựa trên dữ liệu lớn, Internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo… đã tạo nên mô hình kinh doanh hết sức đa dạng, khác với trước đây. Theo Nguyễn Thị Nam Phương (2019), với mô hình này, nhân lực của doanh nghiệp đã trở thành đối tác thay vì người làm thuê. Cả hai bên đều có sự cạnh tranh trong lựa chọn đối tác, vì chính vì thế quản trị nguồn nhân lực đã điều chỉnh theo hướng mới, đòi hỏi người làm chính sách nhân sự phải truyền thông tốt, xử lý vấn đề tốt và luôn ở quy mô lớn.
Những nghiên cứu đa chiều về nhân sự đòi hỏi được thực hiện thường xuyên, có chiều sâu đòi hỏi kiến thức về quản trị, về chiến lược và về con người hết sức sâu sắc. Hệ thống công cụ sử dụng trong nghiên cứu cũng đã trở nên vô cùng đa dạng và thông minh. Mạng xã hội Linkedin và Facebook được sử dụng để tuyển dụng, tìm nhà cung cấp dịch vụ, tìm kiếm đối tác hợp tác. Các ứng dụng mobile và tiện ích truy cập như smart wifi, member login được thiết kế hết sức đa dạng và nhiều để thu thập dữ liệu lớn phân tích hành vi đặc tính nhu cầu hoặc ý kiến phản hồi của người lao động 8 1.2 Thực trạng tin học hóa hệ thống quản trị NNL tại BIDV 1.1 Tổng quan về Ngân hàng BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là doanh nghiệp cổ phần nhà nước hạng đặc biệt, được tổ chức theo mô hình tổng công ty cổ phần nhà nước.
Được thành lập ngày 26/4/1957, thủ tướng chính phủ ký nghị định 177/TTg thành lập “Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam ” trực thuộc Bộ Tài Chính thay thế cho “Vụ cấp phát vốn Kiến thiết cơ bản”, là ngân hàng chuyên doanh được thành lập sớm nhất tại Việt Nam. Quá trình hơn 55 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam hiện nay BIDV đứng đầu các ngân hàng thương mại về tổng tài sản, có mạng lưới lớn nhất Việt Nam gồm 190 chi nhánh, 871 điểm mạng lưới tại 63 tỉnh thành toàn quốc, hiện diện thương mại tại nhiều quốc gia trên thế giới với hơn 25.000 cán bộ công nhân viên đang làm việc, trong đó nữ giới chiếm khoảng 45%, lao động có độ tuổi 30-40 chiếm tỷ lệ lớn (khoảng 46,0%), lao động trình độ sau đại học, đại học chiếm trên 90% tổng số cán bộ nhân viên, những năm gần đây BIDV ngày càng chú trọng đến việc tuyển dụng lao động có trình độ chuyên môn cao. Từ những đặc thù của NNL kể trên đã tác động tới hoạt động Quản trị NNL trong BIDV theo một số hướng như sau: - Số lượng cán bộ công nhân viên của BIDV xuất thân trên khắp các tỉnh, địa bàn hoạt động của BIDV trên cả nước dẫn đến nguồn lực bỏ ra cho hoạt động Quản trị NNL của BIDV khá lớn, các chính sách phải đa dạng phù hợp với từng vùng, từng địa phương. - Lao động có trình độ chuyên môn, kiến thức cao trong ngân hàng còn thiếu, còn hạn chế về số lượng.
Vì vậy, chính sách thu hút nhân tài, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài trong ngân hàng càng phải chú trọng và hoàn thiện hơn nữa. - Hiện tượng nghỉ việc, bỏ việc chuyển sang đơn vị khác còn chiếm tỉ lệ khá cao trong NNL của BIDV thể hiện chính sách về lương, thưởng, đãi ngộ trong BIDV còn những hạn chế cần tìm hiểu và khắc phục.2 Đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT vào QTNNL tại BIDV Với sự lan tỏa mạnh mẽ, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tạo ra sự thay đổi nhanh chóng trong cách quản lý, điều hành cũng như phát triển của doanh nghiệp. Điều này tác động trực tiếp đến xu hướng đổi mới công nghệ trong công tác quản trị nhân sự ở mỗi công ty, trong thời đại kỷ nguyên số như hiện này. Nhận thức được vai trò của công tác quản trị nguồn nhân lực và hỗ trợ quản trị nhân sự từ năm 2006 BIDV đã đã xây dựng phần mềm quản trị nhân sự trên nền tảng ASP và cơ sở dữ liệu SQLServer 2000 và áp dụng trên toàn hệ thống.
Tuy nhiên với tốc độ phát triển nhanh về quy mô và hiệu quả hoạt động thì phần mềm quản trị nhân sự hiện tại chưa đáp ứng được công tác quản lý hồ sơ, thông tin của cán bộ cần được nâng cấp, hiệu chỉnh để đáp ứng nhu cầu quản lý: - Hệ thống tính lương hàng tháng cho cán bộ công nhân viên chạy độc lập với phần mềm quản lý nhân sự, trong quá trình chạy có nhiều lỗi, thông tin không nhất quán với phần mềm nhân sự. - Chưa xây dựng được hệ thống tính KPI hiệu suất làm việc, quản lý giao việc cho cán bộ, việc theo dõi tính KPI, giao việc hoàn toàn thực hiện trên giấy tờ thủ công.