LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, toàn cầu hóa nền kinh tế không còn là vấn đề xa lạ mà đã và đang trở thành một xu hƣớng phát triển tất yếu khách quan đối với nền kinh tế của một quốc gia. Theo đó thì tự do hoá lãi suất là một trong những nội dung quan trọng của tự do hoá tài chính, điều này cũng đồng nghĩa với việc lãi suất trên thị trƣờng sẽ do cung – cầu vốn quyết định. Đây là cơ hội để Ngân hàng huy động các nguồn lực tài chính trong xã hội nhƣng cũng là thách thức không nhỏ cho hoạt động của các Ngân hàng vì cạnh tranh lãi suất sẽ diễn ra ảnh hƣởng đến phần chênh lệch đầu ra – đầu vào dự tính.
Nguy cơ đối mặt với các loại rủi ro vì thế sẽ càng gia tăng, trong đó cần phải tính đến là rủi ro lãi suất. Thêm vào đó là diễn biến phức tạp của lãi suất trên thị trƣờng tiền tệ trong những năm gần đây càng làm nguy cơ đối mặt với loại rủi ro này đối với hoạt động ngân hàng càng lớn hơn. Trong bối cảnh đó, đòi hỏi hệ thống ngân hàng nói chung và Ngân hàng TMCP Bắc Á nói riêng phải đổi mới, nâng cao hoạt động quản trị mà đặc biệt là quản trị rủi ro lãi suất. Chính vì vậy em xin chọn đề tài “Quản trị rủi ro lãi suất của Ngân hàng TMCP Bắc Á- Thực trang và giải pháp” làm nội dung nghiên cứu với mong muốn là vận dụng những kiến thức đã học tập để xem xét, giải quyết một vấn đề thực tiễn và đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro lãi suất của Ngân hàng TMCP Bắc Á.
Mục đích nghiên cứu Khóa luận nghiên cứu về những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị rủi ro lãi suất. Ngoài ra khóa luận còn xem xét, đánh giá thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của NHTM Bắc Á, từ đó đƣa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro lãi suất của Ngân hàng TMCP Bắc Á. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của khóa luận chủ yếu tập trung vào tình hình quản trị rủi ro lãi suất của Ngân hàng TMCP Bắc Á. Phạm Hữu Nguyên NHTM D-K12 2 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là tập trung nghiên cứu về bản chất của rủi ro lãi suất, những nội dung chính của hoạt động quản trị rủi ro lãi suất.
Từ đó cho ta một cái nhìn khá toàn diện về cơ cấu TSC-TSN để đánh giá thực trạng rủi ro lãi suất của NHTM Bắc Á trong những năm gần đây 2010-2012. Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài nghiên cứu dựa trên các phƣơng pháp nghiên cứu: - Phƣơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; - Phƣơng pháp thống kê, phân tích tổng hợp; - Các mô hình định lƣợng rủi ro lãi suất: GAP, Var, DGAP… - Phân tích thực chứng và phân tích chuẩn tắc. Kết cấu: Tên đề tài “Quản trị rủi ro lãi suất của Ngân hàng TMCP Bắc Á- Thực trang và giải pháp” Khóa luận còn 3 phần chính và đƣợc chia làm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về lãi suất và rủi ro lãi suất tại các ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Bắc Á.
Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại NHTMCP Bắc Á. Phạm Hữu Nguyên NHTM D-K12 3 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. Khái quát rủi ro trong hoạt động ngân hàng Cùng với việc các cam kết hội nhập WTO bắt đầu có hiệu lực và lộ trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng vào năm 2015, các ngân hàng Việt Nam đang thực sự bƣớc vào giai đoạn cạnh tranh mới quyết liệt hơn với nhiều định chế tài chính quốc tế lớn ngay trên thị trƣờng nội địa truyền thống của mình. Để có thể tồn tại và phát triển bền vững, các ngân hàng thƣơng mại phải nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh, một mặt không ngừng gia tăng các dịch vụ và mặt khác nâng cao năng lực quản trị trong đó năng lực quản trị rủi ro đƣợc xem là quan trọng hàng đầu.
Với tốc độ tăng trƣởng khá cao của ngành ngân hàng - “mạch máu của nền kinh tế”, cùng xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, thêm vào đó là những gì đã diễn ra trên thị trƣờng tiền tệ Việt Nam trong thời gian gần đây cho thấy vấn đề quản trị rủi ro trong các ngân hàng thƣơng mại có ý nghĩa cấp bách cả về lý luận và thực tiễn. Trƣớc hết ta phải hiểu rủi ro là khả năng các sự kiện, đƣợc dự đoán trƣớc hay bất ngờ, có thể gây ra tác động bất lợi đối với vốn hay thu nhập của ngân hàng. Rủi ro tài chính a) Rủi ro thị trường Rủi ro thị trƣờng là rủi ro tiềm ẩn của một TCTD khi các biến động của giá thị trƣờng gây ra những tác động bất lợi lên vốn và thu nhập của TCTD. Phạm Hữu Nguyên NHTM D-K12 4 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Rủi ro thị trƣờng có nhiều hình thức nên đƣợc chia ra làm 3 loại là rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, và rủi ro giá cả.
Ba loại này nằm trong khái niệm rộng về rủi ro thị trƣờng cũng nhƣ phù hợp với cách thức đo lƣờng rủi ro này trong nội bộ ngân hàng. Rủi ro lãi suất. Rủi ro lãi suất là những tổn thất tiềm năng mà ngân hàng phải gánh chịu hay nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng khi lãi suất thị trƣờng biến động. Vì đây là đối tƣợng chính của đề tài nên sẽ đƣợc nêu rõ trong phần dƣới.
Rủi ro hối đoái hay còn gọi là rủi ro tỷ giá. Rủi ro hối đoái là rủi ro tiềm ẩn ảnh hƣởng đến thu nhập và vốn phát sinh do có sự thay đổi về tỷ giá hối đoái. Nguyên nhân chủ quan dẫn đến rủi ro tỷ giá của các NHTM là do trạng thái ngoại hối không cân xứng, tức là có sự chênh lệch giá trị tài sản Có và tài sản Nợ ngoại hối hoặc chênh lệch giữa doanh số mua vào và bán ra của đồng tiền nƣớc ngoài. Nguyên nhân khách quan khác là do sự biến động tỷ giá theo chiều hƣớng bất lợi đối với ngân hàng.
Nguyên nhân của sự biến động này là : cung - cầu ngoại tệ trên thị trƣờng, cán cân thanh toán quốc tế, chính sách thuế quan, năng suất lao động, tình hình kinh tế chính trị của mỗi nƣớc, lãi suất đồng ngoại tệ và nội tệ. Rủi ro về giá Rủi ro về giá là rủi ro tiềm ẩn ảnh hƣởng đến thu nhập và vốn phát sinh từ những thay đổi bất lợi của giá trị công cụ tài chính và các khoản đầu tƣ khác hoặc các tài sản có của ngân hàng hoặc các công ty con của ngân hàng ở trong bảng hoặc ngoại bảng cân đối, do thay đổi về giá trị hoặc giá thị trƣờng. Rủi ro này phát sinh từ việc thiết lập thị trƣờng, từ các giao dịch, các hoạt động tạo trạng thái lãi suất, hối đoái, vốn cổ phần, và thị trƣờng hàng hóa. Một số ngân hàng áp dụng thuật ngữ rủi ro giá cả thay cho rủi ro thị trƣờng.
Bởi vì rủi ro giá cả chủ yếu đề cập đến những thay đổi các nhân tố thị trƣờng (ví dụ: lãi suất, tính thanh khoản thị trƣờng, những sự biến động …) có ảnh hƣởng đến giá trị các công cụ đƣợc mua bán trên thị trƣờng. Các tài khoản sơ cấp bị ảnh hƣởng bởi rủi ro giá cả là Phạm Hữu Nguyên NHTM D-K12 5 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng các tài khoản đƣợc đánh giá lại để lập báo cáo tài chính (VD: trạng thái vốn cổ phần trong các công ty khác, các tài khoản kinh doanh, các công cụ phái sinh và các sản phẩm hối đoái). b) Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là rủi ro tiềm ẩn đối với thu nhập hay vốn phát sinh khi đối tác không đáp ứng đƣợc các điều kiện của hợp đồng hay không thực hiện đầy đủ nhƣ đã thoả thuận theo các điều khoản của hợp đồng. Rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất của ngân hàng, thƣờng xuyên xảy ra và gây thiệt hại cho ngân hàng thƣơng mại.
Thông thƣờng đối với ngân hàng trên thế giới nó mang lại 2/3 thu ngập, còn ở Việt Nam khoảng 90% thu nhập của ngân hàng thƣơng mại. Vì đem lại nhiều thu nhập nên kèm theo nó là khi rủi ro xảy ra thì hậu quả lại rất lớn. Rủi ro tín dụng tồn tại trên cả nội bảng và ngoại bảng cân đối của ngân hàng. Rõ ràng rủi ro tín dụng phát sinh từ các món cho vay nhƣng còn có các nguồn khác gây ra rủi ro tín dụng nhƣ: - Tài trợ và chấp thuận thƣơng mại.
- Giao dịch liên ngân hàng. - Cam kết và bảo lãnh. - Các công cụ phái sinh lãi suất, ngoại hối, tín dụng. - Nắm giữ trái phiếu và cổ phiếu.
- Thanh toán giao dịch. Trong quan hệ tín dụng có hai đối tƣợng tham gia là ngân hàng cho vay và ngƣời đi vay. Nhƣng ngƣời đi vay sử dụng tiền vay trong một thời gian, không gian cụ thể, tuân theo sự chi phối của những điều kiện cụ thể nhất định mà ta gọi là môi trƣờng kinh doanh, và đây là đối tƣợng thứ ba có mặt trong quan hệ tín dụng. Rủi ro tín dụng xuất phát từ môi trƣờng kinh doanh gọi là rủi ro do nguyên nhân khách quan.
Rủi ro xuất phát từ ngƣời vay và ngân hàng cho vay gọi là rủi ro do nguyên nhân chủ quan. Nguyên nhân khách quan: Môi trƣờng kinh tế không ổn định, môi trƣờng pháp lý chƣa thuận lợi. Phạm Hữu Nguyên NHTM D-K12 6 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Nguyên nhân chủ quan: Khách hàng vay vốn sử dụng sai mục đích, tình hình tài chính khách hàng yếu kém hoặc khách hàng không có thiện chí trả tiền. Mặt khác cũng do yếu tố con ngƣời trong ngân hàng còn thiếu trình độ chuyên môn, hệ thống kiểm soát yếu tố kiểm soát nội bộ yếu kém.