Chương 1: Cơ sở lí thuyết có liên quan đến đề tài Chương 2: So sánh tục ngữ liên quan đến 12 con giáp Chương 3: So sánh biểu trưng tục ngữ Luận văn có phần mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÍ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái niệm chung về tục ngữ Khái niệm của tục ngữ của Việt Nam và Hàn Quốc giống nhau nhưng khác về phạm trù của nó. Khác với Việt Nam, Hàn Quốc không phân biệt tục ngữ và thành ngữ. Quan niệm về tục ngữ trong tiếng Hàn Ở Hàn Quốc, cho đến bây giờ khái niệm về tục ngữ vẫn chưa được xác định rõ.
Khác với Việt Nam, Hàn Quốc không có từ riêng chỉ khái niệm tục ngữ và thành ngữ mà sử dụng từ tục đàm(俗談). Nội hàm của từ này bao gồm cả tục ngữ và thành ngữ. Ví dụ, 식식 식 식식식. Cụm từ này diễn tả một cách hình ảnh làm một việc gì rất dễ.
Còn câu 식식 식식 식식식 식식 식식 식식. “Lời nói đi đẹp thì lời nói đến cũng đẹp”. Như vậy, khái niệm tục đàm ở Hàn Quốc bao gồm cả tục ngữ và thành ngữ nếu hiểu theo quan niệm của tiếng Việt. Tục đàm là câu nói liên quan mật thiết với hoạt động ngôn ngữ chúng ta, được sáng tạo ra bởi quần chúng, được lưu giữ truyền miệng và chứa đựng lời giáo huấn cho đời sống nhân dân.
Định nghĩa về tục đàm trong các từ điển và của các học giả nhìn chung không khác nhiều. Sau đây là một số định nghĩa tục đàm trong từ điển Hàn Quốc. Theo Đại từ điển tục đàm thế giới [13 ,tr11 ], tục đàm là lời quý giá được lan truyền rộng rãi dựa vào kinh nghiệm đời thường của nhân dân trong thời 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gian dài, là tài sản văn hóa chung của nhân loại được lưu giữ bằng tiếng nói của các quốc gia và nhận được tình cảm yêu quý của người dân quốc gia đó. Còn theo Đại từ điển tục ngữ lời nói ta [14 ,tr1896](2006) thì tục đàm là lời nói được sử dụng khi nói chân lý về sinh hoạt nhân dân, mục đích của nó là biểu hiện lời giáo huấn, lời khuyên, tưởng tượng, so sánh, mỉa mai và những tri thức có thể thêm kinh nghiệm.
Ngoài ra, định nghĩa về tục đàm còn được đưa ra trong nhiều cuốn từ điển khác như: Từ điển tiếng nói ta mới, Từ điển quốc ngữ tiểu chuẩn mới, Từ điển tục ngữ Hàn Quốc, Từ điển tục ngữ chữ Hán Hàn Quốc, Từ điển tiếng Hàn Yonsei, Từ điển Hangul. Bên cạnh từ điển, trong nhiều công trình nghiên cứu, các học giả Hàn Quốc cũng đưa ra các cách hiểu về tục đàm như sau. Theo tác giả Kim Sa Yeop trong sách Luận tục đàm[15 ,tr128] (1953):Khác với những câu nói của tài liệu thánh hiền, tục ngữ được đúc kết tính tình và tâm lí của nhân dân nên nó thể hiện khí chất, bản tính của nhân dân của một quốc gia đó, có thể hiểu về đạo lí và tính ngưỡng nữa. Có thể coi tục ngữ là vật thu nhỏ của quốc gia đó.
Còn học giả Jo Jae Yun trong luận văn tiến sĩ “Nghiên cứu phân tích cấu trúc tục đàm Hàn Quốc” [16,tr10](1970) thì quan niệm tục đàm là lời nói thường dùng thể hiện một cách ngắn gọn và so sánh trí tuệ sinh hoạt trần tục được rút ra từ trải nghiệm đời thường của người bình thường. Như vậy, có rất nhiều định nghĩa về tục đàm được đưa ra trong các công trình nghiên cứu. Chúng ta không thể biết ai đã sáng tạo ra tục đàm, và vào thời gian nào nhưng tục đàm, giống như thành ngữ và tục ngữ, thực sự là di sản quý báu được truyền miệng qua nhiều thế hệ, được đúc kết trong sinh hoạt đời thường. Chúng là lời nói thật thà chứa đầy tri thức, có khi hài hước 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có khi tình cảm đã chi phối sinh hoạt ngôn ngữ của một dân tộc, phản ánh cuộc sống của dân tộc trong lịch sử.
Như chúng tôi vừa trình bày ở trên, tiếng Hàn chỉ có một từ tục đàm để chỉ cả hai khái niệm tục ngữ và thành ngữ, khác với tiếng Việt có một khái niệm tục ngữ(俗語) riêng phân biệt với thành ngữ. Để thuận tiện và nhất quán cho việc nghiên cứu, chúng tôi sưu tập các tục đàm liên quan đến 12 con giáp trong tiếng Hàn không bao gồm các đơn vị là thành ngữ theo khái niệm tiếng Việt. Đồng thời, chúng tôi sử dụng khái niệm tục ngữ để gọi chung cho tục ngữ Việt Nam và Hàn Quốc (thay cho tục đàm) trong luận văn của mình. Quan niệm về tục ngữ trong tiếng Viêt Trong tiếng Việt, tục ngữ giữ một vai trò rất quan trọng và thu hút được nhiều sự quan tâm của các học giả.
Tục ngữ, cũng giống như ngôn ngữ, được hình thành và phát triển cùng với lịch sử của dân tộc, nó là phần lưu giữ nét đẹp văn hóa, đạo đức của dân tộc cũng như là phần kết tinh đẹp nhất của ngôn ngữ. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về tục ngữ. Theo từ điển tiếng Việt tục ngữ [8;1062] được hiểu là câu ngắn gọn thường có vần điệu đúc kết tri thức kinh nghiệm sống và đạo đức của nhân dân. Theo từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam của giáo sư Nguyễn Lân[5;6] Tục ngữ là những câu hoàn chỉnh, có ý nghĩa trọn vẹn, nói lên hoặc một nhận xét về tâm lý, hoặc một lời phê phán, khen hay chê, hoặc một câu khuyên nhủ, hoặc một kinh nghiệm về nhận thức tự nhiên hay xã hội… Trong từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học tục ngữ là câu ngắn gọn có cấu trúc tương đối ổn định, đúc kết kinh nghiệm sống, đạo đức, tri thức của dân tộc.
[5,tr239] 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo học giả Vũ Ngọc Phan [10,tr13]: Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán. Còn theo nhà nghiên cứu Mã Giang Lân[10,tr13]: Tục ngữ là lời ăn tiếng nói của nhân dân đã được đúc kết lại dưới những hình thức tinh giản mang nội dung xúc tích. Tục ngữ thiên về biểu hiện trí tuệ của nhân dân trong việc nhận thức thế giới, xã hội và con người. Phân biệt tục ngữ với các đơn vị khác Nếu như Hàn Quốc có từ tục đàm để chỉ cả khái niệm tục ngữ và thành ngữ thì Việt Nam có khái niệm thành ngữ, tục ngữ riêng.
Bên cạnh đó trong từ vựng tiếng Việt còn có các khái niệm khác như quán ngữ, ca dao hoặc ngữ cố định. Các khái niệm này có nhiều sự tương đồng và khác biệt. Vì chúng đều là đơn vị trong một ngôn ngữ, có tính cố định và được hình thành qua một thời gian lâu dài nên việc phân biệt và nhận diện từng đơn vị không phải dễ. Dưới đây, chúng tôi sẽ đưa ra một vài lập luận để phân biệt tục ngữ với các đơn vị khác.
Phân biệt tục ngữ với thành ngữ Tục ngữ và thành ngữ là hai khái niệm khá gần gũi và song hành trong một ngôn ngữ. Từ trước đến nay, có rất nhiều nghiên cứu được các nhà Việt ngữ học đưa ra xoay quanh vấn đề này. Vì giữa tục ngữ và thành ngữ có sự xâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau nên ranh giới của chúng không rõ ràng. Cho đến hiện nay, vẫn tồn tại tranh cãi về một số đơn vị không biết là thành ngữ hay tục ngữ.
Ví dụ: Sống lâu lên lão làng, tre già măng mọc v. có đến 3 cách hiểu khác nhau: thành ngữ, tục ngữ, vừa thành ngữ vừa tục ngữ. Có tác giả cho rằng thành ngữ và tục ngữ tuy phân biệt nhau nhưng cũng thâm nhập lẫn nhau. Do đó, có những trường hợp một thành ngữ cũng có thể được dùng như một câu tục ngữ.
Mặt khác, có nghiên cứu cho rằng số 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành ngữ mà gốc lại là tục ngữ. Một số tục ngữ trong quá trình hoạt động đã không được người sử dụng hiểu đúng nội dung của nó dẫn đến việc ngộ nhận, từ đó vô tình gán cho chúng những nội dung, hình ảnh, hiện tượng mới nên chúng nghiễm nhiên chuyển thành thành ngữ. Ngoài ra sự chuyển từ tục ngữ sang thành ngữ còn do trong quá trình hoạt động, tính chất quy luật, tính chất chân lý của chúng không đứng vững được. Và người ta dùng chúng để giới thiệu những tình trạng, những tính cách, những thái độ như: Gà què ăn quẩn cối xay, Trâu trắng đi đâu mất mùa đến đó.
Chính sự gần gũi và chuyển hóa lần nhau của tục ngữ và thành ngữ cũng gây ra nhiều khó khăn cho chúng tôi trong quá trình chọn lọc các tục ngữ làm tư liệu cho luận văn này. Ở một số trường hợp, với chúng tôi việc nhận diện đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ không hề dễ dàng và bên cạnh việc tìm hiểu tài liệu thì cũng dựa vào cảm quan và suy đoán của cá nhân. Tuy thành ngữ có nhiều nét tương đồng với tục ngữ như đều là những đơn vị có sẵn, có kết cấu chặt chẽ, tính hình ảnh về ý nghĩa nhưng lại khác tục ngữ về bản chất. Theo từ điển tiếng Việt [8,tr915], thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó.
Như vậy, xét về cấu trúc, thành ngữ chỉ là một cụm từ cố định có tính chất tương đương với từ, là những đơn vị có sẵn được sử dụng một cách rộng rãi tự nhiên trong đời sống. Thành ngữ không có khả năng đứng độc lập trong chuỗi lời nói mà chúng thường được chêm thêm vào trong quá trình giao tiếp. Ví dụ: Rẻ như bèo. Còn tục ngữ là những đơn vị tương đương với câu, là những thông báo ngắn gọn, một kết luận về một hiện tượng nào đó.
Khi muốn đưa ra một kết luận chắc chắn, một kinh nghiệm, một lời khuyên thì mỗi tục ngữ tối thiểu 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phải là một câu Ráng mỡ gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa; con trâu là đầu cơ nghiệp. Về ý nghĩa thành ngữ miêu tả một hình ảnh một hoạt động, một hiện tượng, một tính cách, một thái độ, thông qua nghĩa biểu trưng, mang tính chất hình ảnh. Ví dụ Mẹ tròn con vuông, Chậm như rùa v. Còn tục ngữ thì đúc kết một quy luật, một kinh nghiệm.