phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện tại Trung tâm Thông tin kinh tế Ban Kinh tế Trung ƣơng. Chƣơng 2: Thực trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện tại Trung tâm Thông tin kinh tế Ban Kinh tế Trung ƣơng. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng và đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện tại Trung tâm Thông tin kinh tế Ban Kinh tế Trung ƣơng. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƢ VIỆN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN KINH TẾ BAN KINH TẾ TRUNG ƢƠNG 1.
Những vấn đề chung về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện 1. Khái niệm về sản phẩm thông tin - thư viện “Sản phẩm” là một khái niệm đƣợc sử dụng trƣớc tiên và chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế và hoạt động thực tiễn của nền sản xuất. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2003), tập 3 “Sản phẩm là kết quả của các hoạt động hoặc các quá trình. Sản phẩm bao gồm dịch vụ, phần cứng, vật liệu đã chế biến, phần mềm hoặc tổ hợp của chúng.
Sản phẩm có thể là vật chất (ví dụ các vật liệu lắp ghép hoặc vật liệu đã chế biến), hoặc phi vật chất (ví dụ thông tin, khái niệm hoặc tổ hợp của chúng). Sản phẩm có thể đƣợc làm ra có chủ định (ví dụ để dành cho khách hàng), hoặc không đƣợc chủ định (ví dụ chất ô nhiễm hoặc kết quả không mong muốn) [21, tr. Theo Đại từ điển tiếng Việt “Sản phẩm là cái do con ngƣời lao động tạo ra hoặc cái đƣợc tạo ra nhƣ một kết quả của tự nhiên” [59, tr. Trong hoạt động thông tin - thƣ viện, khái niệm sản phẩm thông tin - thƣ viện đƣợc đề cập đến trong cuốn giáo trình Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện của tác giả Trần Mạnh Tuấn "Sản phẩm thông tin - thư viện là kết quả của quá trình xử lý thông tin, do một cá nhân hoặc tập thể nào đó thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu của NDT” [50, tr.
Với những khái niệm trên, để tiện cho quá trình nghiên cứu trong Luận văn này, tác giả cho rằng sản phẩm thông tin - thư viện là kết quả của quá trình xử lý thông tin nhằm thỏa mãn nhu cầu tin. Quá trình lao động để tạo ra sản phẩm chính là quá trình xử lý thông tin (bao gồm biên mục, phân loại, định từ khóa, tóm tắt, chú giải, biên soạn tổng luận cũng nhƣ các quá trình phân tích - tổng hợp thông tin khác). Ngƣời thực 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện quá trình xử lý thông tin có thể là các chuyên gia hoặc cán bộ chuyên ngành của một cơ quan, tổ chức thông tin. Sản phẩm thông tin đƣợc hình thành nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin, chúng phụ thuộc chặt chẽ vào nhu cầu và sự biến động của nhu cầu.
Mức độ thỏa mãn NCT ở những sản phẩm khác nhau cũng rất khác nhau. Các sản phẩm thông tin thƣ mục có khả năng thỏa mãn nhu cầu tra cứu thông tin về tài liệu. Các sản phẩm thông tin dạng dữ kiện, toàn văn, tổng thuật có khả năng thỏa mãn nhu cầu về chính bản thân thông tin. * Một số đặc trưng của sản phẩm thông tin - thư viện - Chu kỳ sống: Mỗi loại sản phẩm thông tin - thƣ viện có một chu kỳ sống.
Chúng tăng trƣởng, suy giảm và cuối cùng đƣợc thay thế. Từ lúc sinh ra đến khi mất đi, chu kỳ sống của sản phẩm có thể đƣợc chia làm 5 giai đoạn (giới thiệu, tăng trƣởng, trƣởng thành, suy giảm và bỏ đi). - Những sản phẩm mới là cần thiết cho sự tăng trƣởng: Trong xu thế đổi mới toàn diện tất cả các mặt của đời sống ngày nay, sự đổi mới đã trở thành nhƣ là một triết lý. Thực tế đã chỉ ra rằng những cơ quan thông tin - thƣ viện đang phát triển hiện nay là những cơ quan đã định trƣớc cho mình những sản phẩm mới.
- Những nhân tố thúc đẩy việc phát triển sản phẩm mới: Một số nhân tố bên ngoài sẽ thúc đẩy phát triển và giới thiệu những sản phẩm thông tin mới. Bao gồm sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự thay đổi nhu cầu và thói quen, những chu kỳ sống của sản phẩm bị rút ngắn và việc gia tăng sự cạnh tranh quốc tế. - Sự lựa chọn sử dụng thông tin gia tăng: Trong những năm gần đây, NDT có quyền lựa chọn sản phẩm thông tin từ các nguồn thông tin khác nhau một cách rộng rãi hơn. Đặc biệt, trong điều kiện phát triển mạnh mẽ các phƣơng tiện truyền thông và internet, NDT có thể tìm kiếm thông tin mọi lúc, mọi nơi không bị hạn chế bởi không gian và thời gian.
- Môi trƣờng tồn tại và nguồn tài nguyên: Thực tế ngày nay khối lƣợng thông tin gia tăng nhanh chóng dẫn tới khó khăn cho việc xử lý thông tin và sử dụng tài liệu. Một cơ quan thông tin - thƣ viện dù có tiềm lực lớn đến đâu cũng 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khó có thể thu thập đƣợc đầy đủ các ấn phẩm xuất bản. Điều này bắt buộc các cơ quan phải có chính sách phát triển các sản phẩm thông tin - thƣ viện phù hợp và sử dụng nguồn nhân lực có trình độ để tổ chức phát triển các sản phẩm đồng thời cần phải thực hiện chia sẻ nguồn lực với các cơ quan thông tin - thƣ viện khác. Do đó, các cơ quan thông tin - thƣ viện phải không ngừng đổi mới và tự hoàn thiện mình trên tất cả phƣơng diện (tăng cƣờng nguồn lực thông tin, đa dạng hóa các sản phẩm thông tin - thƣ viện, đa dạng hóa phƣơng thức phục vụ).
Khái niệm về dịch vụ thông tin - thư viện “Dịch vụ” là một thuật ngữ đƣợc sử dụng trƣớc tiên và chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế học và thực tiễn hoạt động của nhiều lĩnh vực trong xã hội. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2007), tập 1 "Dịch vụ là những hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt. Do nhu cầu rất đa dạng tuỳ theo sự phân công lao động nên có nhiều loại dịch vụ nhƣ dịch vụ sản xuất kinh doanh, dịch vụ phục vụ sinh hoạt công cộng… Sự phát triển dịch vụ hợp lý, có chất lƣợng cao là một biểu hiện của nền kinh tế phát triển và một xã hội văn minh. Do ý nghĩa kinh tế - xã hội to lớn nên hoạt động dịch vụ trở thành lĩnh vực kinh tế quan trọng, có vị trí to lớn trong cơ cấu kinh tế của các quốc gia có tốc độ phát triển cao" [20, tr.
Theo Đại Từ điển tiếng Việt "Dịch vụ là công việc phục vụ cho đông đảo quần chúng" [59, tr. Trong hoạt động thông tin - thƣ viện, khái niệm dịch vụ thông tin - thƣ viện đƣợc đề cập đến trong cuốn giáo trình Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện của tác giả Trần Mạnh Tuấn "Dịch vụ thông tin - thư viện bao gồm những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan thông tin - thư viện nói chung" [50, tr. Nhu cầu thông tin và nhu cầu trao đổi thông tin là thuộc nhóm nhu cầu tinh thần. Có nhu cầu chỉ cần ở mức giúp ngƣời sử dụng trao đổi đƣợc thông tin.
Trong khi đó, có nhu cầu ngoài việc trao đổi thông tin, ngƣời sử dụng dịch vụ còn cần đƣợc cung cấp những thông tin cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của họ. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dịch vụ thông tin - thƣ viện có mối quan hệ chặt chẽ giữa ngƣời dùng tin với cán bộ thƣ viện. Trên cơ sở các yêu cầu về thông tin của NDT, cán bộ thƣ viện triển khai các dịch vụ, ngƣợc lại nhờ các dịch vụ do cán bộ thƣ viện tạo ra NDT đƣợc thỏa mãn nhu cầu thông tin của mình. Dịch vụ thông tin - thƣ viện có thể chia thành các nhóm cơ bản nhƣ dịch vụ cung cấp tài liệu, dịch vụ trao đổi thông tin, dịch vụ phổ biến thông tin, dịch vụ tra cứu tin… * Một số đặc tính chung của dịch vụ thông tin - thư viện - Tính đồng thời: Việc tạo ra các dịch vụ thông tin - thƣ viện và cung cấp các dịch vụ ấy cho ngƣời dùng tin đƣợc diễn ra đồng thời.
- Tính vô hình: Khác với sản phẩm, dịch vụ là cái mà chúng ta không thể nhìn thấy, nắm lấy hay nhận diện đƣợc bằng giác quan. Chính vì vậy mà khi muốn quảng cáo cho các dịch vụ, cần tạo cho NDT biết tiềm năng của nó bằng cách giới thiệu cho họ biết đến các dịch vụ đó. - Tính chất không đồng nhất: Dịch vụ thông tin gắn với cá nhân/tập thể cung cấp dịch vụ. Chất lƣợng của dịch vụ phụ thuộc chặt chẽ vào cá nhân/tập thể thực hiện dịch vụ.
- Tính không thể tách rời/chia cắt: Thông thƣờng để thực hiện một dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ thƣờng phải tiến hành một số bƣớc hoặc một số thao tác đi liền với nhau, không thể tách rời nhau để thu đƣợc kết quả mà ngƣời sử dụng dịch vụ mong muốn. - Sự tồn kho: Tổn thất do tồn kho dịch vụ nhìn chung là lớn và nhiều khi khó xác định đƣợc đầy đủ. Khi không triển khai đƣợc các dịch vụ thì cơ quan tổ chức dịch vụ vẫn phải dành những khoản chi phí thƣờng xuyên để trả lƣơng cho ngƣời thực hiện dịch vụ, đào tạo đối với những khu vực dịch vụ đòi hỏi trình độ chuyên môn và có tính cập nhật cao, bảo hành các sản phẩm (cập nhật, bảo trì các CSDL), trang thiết bị kỹ thuật (hệ thống truyền thông vô tuyến và hữu tuyến) trực tiếp đƣợc sử dụng để thực hiện dịch vụ. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện là hai mặt hoạt động không thể thiếu đƣợc trong bất cứ một thƣ viện hay một trung tâm thông tin nào, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chuyển hóa lẫn nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển và không thể tách rời nhau. Sản phẩm thông tin - thƣ viện đƣợc tạo ra nhằm khai thác, tìm kiếm thông tin cũng nhƣ đƣợc tiến hành hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của NDT.