Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy nền kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo quốc gia. Theo các nghiên cứu quốc tế, việc tổ chức hiệu quả công tác thông tin khoa học và công nghệ có thể giúp giảm thiểu từ 40% đến 70% sự lãng phí kinh phí nghiên cứu do trùng lặp đề tài. Tại Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI và Nghị định 28/2008/NĐ-CP đã khẳng định phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu. Trong hệ thống đó, Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đóng vai trò là cơ quan đầu não với mạng lưới phục vụ hơn 35.600 người dùng tin đăng ký.

Tuy nhiên, trước sự bùng nổ của công nghệ số và internet, hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại Cục bộc lộ nhiều hạn chế về cơ cấu, tính linh hoạt và mức độ đáp ứng nhu cầu chuyên sâu. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là khảo sát toàn diện thực trạng tạo lập, cung ứng sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, tối ưu hóa hơn 16.000 nguồn tài liệu điện tử quốc tế và phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu, đào tạo cũng như sản xuất kinh doanh.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian hoạt động của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia trong giai đoạn 2009 - 2013 và tầm nhìn phát triển đến năm 2015. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc chuẩn hóa mô hình tổ chức dịch vụ thông tin khoa học, góp phần nâng cao năng lực phục vụ cho khoảng 9.500 bạn đọc thường xuyên và hơn 12.000 lượt truy cập trực tuyến mỗi tháng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết kinh tế tri thức với luận điểm trung tâm coi thông tin là nguồn lực kinh tế chính của xã hội hiện đại. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp mô hình chu kỳ sống của sản phẩm thông tin bao gồm các giai đoạn: tạo lập, tăng trưởng, bão hòa và thay thế, nhằm lý giải tính tất yếu của việc liên tục đổi mới hệ thống tư liệu.

Bốn khái niệm nền tảng được chuẩn hóa trong công trình bao gồm:

  • Sản phẩm thông tin thư viện: Kết quả xử lý trí tuệ từ nguồn tin gốc (biên mục, phân loại, tóm tắt, tổng luận) phục vụ tra cứu và khai thác nội dung.
  • Dịch vụ thông tin thư viện: Tổ hợp các hoạt động nghiệp vụ phục vụ việc tiếp cận, khai thác tài liệu có thu phí hoặc phi lợi nhuận.
  • Dịch vụ phổ biến thông tin có chọn lọc (SDI): Cơ chế cung cấp thông tin định kỳ theo hồ sơ nhu cầu cá nhân hóa của từng chuyên gia.
  • Mục lục truy cập công cộng trực tuyến (OPAC): Hệ thống công cụ tìm kiếm dữ liệu hiện đại thay thế cho hệ thống phích truyền thống.

Chất lượng sản phẩm được đo lường qua 4 tiêu chí: tính bao quát nguồn tin, tính chính xác khách quan, tính đa dạng và tính linh hoạt. Chất lượng dịch vụ được định lượng qua 5 tiêu chuẩn: tính hiệu quả, chi phí thực hiện, tính kịp thời, tính thuận tiện và mức độ thỏa mãn nhu cầu tin của độc giả.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phân tích các văn bản quy phạm pháp luật như Quyết định 2880/QĐ-BKHCN và Quyết định 116/QĐ-BKHCN. Về mặt thực nghiệm, tác giả tiến hành điều tra xã hội học với cỡ mẫu 350 phiếu khảo sát. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng dựa trên 4 nhóm người dùng tin chính nhằm đảm bảo độ tin cậy thống kê trên 95% và phản ánh chính xác cấu trúc thực tế của hơn 35.600 bạn đọc.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định lượng kết hợp phỏng vấn sâu 15 cán bộ quản lý là nhằm lượng hóa chính xác tỷ lệ hài lòng, đồng thời làm rõ những nút thắt nghiệp vụ trong khâu xử lý tư liệu. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo thống kê hoạt động của Cục trong liên tục 5 năm (2009 - 2013). Quá trình xử lý số liệu sử dụng kỹ thuật thống kê mô tả và so sánh chéo để bảo đảm tính khách quan, khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tiềm lực tài nguyên thông tin số hóa rất lớn nhưng mức độ khai thác chưa tương xứng. Cục đã xây dựng hạ tầng kết nối tới hơn 16.000 tên tạp chí điện tử quốc tế (ScienceDirect, SpringerLink, ProQuest, IEEE) và vận hành mạng VINAREN kết nối 63 tổ chức tại 11 tỉnh thành với băng thông 155 Mbps. Dù vậy, lưu lượng sử dụng mới đạt khoảng 12.000 lượt truy cập trực tuyến mỗi tháng.

Thứ hai, cơ cấu người dùng tin có sự phân hóa rõ rệt về tỷ trọng và nhu cầu. Khảo sát trên tổng số 35.600 bạn đọc cho thấy: sinh viên chiếm tỷ lệ áp đảo với 55% (tương đương 10.450 người); cán bộ nghiên cứu có học vị tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư chiếm 18,4% (3.800 người); kỹ sư và cán bộ khối sản xuất chiếm 18% (3.420 người); khối doanh nghiệp liên doanh và công ty tư nhân chỉ chiếm 7% (1.330 người).

Thứ ba, sự dịch chuyển mạnh mẽ từ tài liệu in ấn sang tài liệu điện tử. Trung bình mỗi tháng Cục chỉ phục vụ khoảng 500 lượt đọc tại chỗ và 240 lượt tài liệu lưu thông truyền thống, trong khi số lượng trang tài liệu in sao và tải trực tuyến qua mạng lên tới 564.733 trang.

Thứ tư, hơn 90% nhu cầu tra cứu của cán bộ nghiên cứu tập trung vào tài liệu khoa học kỹ thuật chuyên sâu, đòi hỏi tính cập nhật cao mà các bản tin tóm lược hiện thời chưa đáp ứng kịp.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân hóa trên bắt nguồn từ việc chậm chuyển đổi mô hình phục vụ từ kho đóng sang môi trường số hóa tích hợp. Dữ liệu khảo sát có thể được mô tả rõ nét qua biểu đồ hình quạt thể hiện cơ cấu 4 nhóm người dùng tin, trong đó sinh viên chiếm hơn một nửa thị phần nhưng mức độ sinh lợi và đóng góp học thuật lại thuộc về nhóm 18,4% cán bộ trình độ cao. Bên cạnh đó, biểu đồ cột so sánh giữa 500 lượt bạn đọc trực tiếp và 12.000 lượt truy cập từ xa đã minh chứng cho xu hướng dịch chuyển không gian khai thác thông tin.

Bảng ma trận đối chiếu mức độ hài lòng giữa dịch vụ truyền thống và dịch vụ điện tử cho thấy sự sụt giảm 35% mức độ quan tâm đối với các ấn phẩm mục lục in giấy. So sánh với các nghiên cứu cùng thời kỳ tại các trung tâm học liệu đại học, kết quả này hoàn toàn tương đồng về quy luật phát triển của thư viện số. Ý nghĩa cốt lõi của phát hiện chỉ ra rằng nếu Cục không sớm đa dạng hóa các gói dịch vụ giá trị gia tăng như dịch thuật chuyên ngành và cung cấp tin theo chuyên đề, nguy cơ lãng phí các cơ sở dữ liệu triệu USD là rất lớn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đa dạng hóa sản phẩm và triển khai dịch vụ phổ biến thông tin có chọn lọc. Cần xây dựng ngay dịch vụ SDI và dịch tài liệu khoa học công nghệ chuyên sâu theo đơn đặt hàng. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ đáp ứng yêu cầu tin chính xác lên trên 85% trong lộ trình 12 tháng, do Trung tâm Phân tích Thông tin chủ trì thực hiện.

Thứ hai, đổi mới chính sách giá và phân tầng người dùng tin. Cần ban hành biểu giá dịch vụ linh hoạt cho 4 nhóm đối tượng: áp dụng mức phí ưu đãi hỗ trợ 50% cho sinh viên nghiên cứu, đồng thời thu phí dịch vụ cao cấp đối với các doanh nghiệp thương mại trong quý 2 năm 2014, do Phòng Kế hoạch Tổng hợp và Phòng Tài chính Kế toán phối hợp triển khai.

Thứ ba, nâng cấp hạ tầng Mạng thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VISTA/VINAREN). Cần đầu tư mở rộng đường truyền mạng nghiên cứu kết nối thêm 20 viện trường, nâng cấp băng thông trục từ 155 Mbps lên trên 1 Gbps trong vòng 2 năm tới, giao cho Trung tâm Mạng thông tin tiên tiến đảm nhiệm.

Thứ tư, đẩy mạnh chiến lược Marketing số và nâng cao năng lực đội ngũ. Cần thực hiện các chiến dịch truyền thông đa kênh, tổ chức 10 lớp tập huấn kỹ năng khai thác cơ sở dữ liệu số cho 170 cán bộ của Cục nhằm tăng 40% lượng người dùng thường xuyên sau 18 tháng, do Phòng Quản lý Thông tin Thống kê chủ trì.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cán bộ lãnh đạo và quản lý tại các cơ quan thông tin, thư viện chuyên ngành. Công trình cung cấp giải pháp thực tiễn để quy hoạch tài nguyên thông tin, quản lý mạng lưới liên hiệp thư viện với 63 đơn vị thành viên và tối ưu hóa ngân sách mua quyền truy cập cơ sở dữ liệu quốc tế.

Nhóm 2: Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Khoa học Thư viện, Quản trị Thông tin. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về khung lý thuyết phân loại sản phẩm dịch vụ, phương pháp khảo sát 350 mẫu và kỹ thuật đánh giá nhu cầu tin theo mô hình phân tầng học thuật.

Nhóm 3: Chuyên viên công nghệ thông tin và phát triển hệ thống thư viện điện tử. Nhóm này có thể ứng dụng kinh nghiệm tích hợp cổng VISTA, hệ thống tạp chí trực tuyến VJOL và mô hình vận hành 6 trung tâm mạng NOC của mạng VINAREN vào các dự án chuyển đổi số thực tế.

Nhóm 4: Doanh nghiệp công nghệ, hiệp hội sản xuất và các nhà khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Đề tài mở ra cách thức tiếp cận kho dữ liệu sáng chế, kết quả nghiên cứu khoa học và phương thức kết nối hiệu quả với sàn giao dịch công nghệ Techmart để đổi mới quy trình sản xuất.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động thông tin khoa học công nghệ giúp giảm thiểu bao nhiêu phần trăm lãng phí ngân sách nghiên cứu? Theo các nghiên cứu được tổng hợp trong luận văn, nếu làm tốt công tác thông tin thì hàng năm có thể giúp tránh lãng phí từ 40% đến 70% kinh phí nghiên cứu khoa học trên phạm vi toàn cầu do ngăn chặn tình trạng nghiên cứu trùng lặp các đề tài đã được công bố.

Mạng VINAREN có quy mô và vai trò gì trong hoạt động của Cục? Mạng VINAREN chính thức khai trương ngày 27/3/2008, gồm 6 trung tâm vận hành mạng NOC, kết nối 63 mạng thành viên tại 11 tỉnh thành, liên kết cộng đồng nghiên cứu Việt Nam với 45 triệu đồng nghiệp tại hơn 8.000 trung tâm khoa học toàn cầu qua hạ tầng TEIN2.

Nhóm người dùng tin nào chiếm tỷ trọng lớn nhất tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia? Sinh viên các trường đại học và cao đẳng là lực lượng đông đảo nhất, chiếm 55% với 10.450 người trong tổng số hơn 35.600 bạn đọc của Cục, tiếp theo là nhóm chuyên gia trình độ cao (tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư) chiếm tỷ lệ 18,4%.

Hiện nay Cục đang cung cấp quyền truy cập vào bao nhiêu tạp chí điện tử quốc tế? Cục đặt mua hàng năm và cung cấp quyền truy cập trực tiếp tới hơn 16.000 đầu tên tạp chí điện tử toàn văn về khoa học công nghệ trên thế giới thông qua các cơ sở dữ liệu uy tín như ScienceDirect, SpringerLink, ProQuest Central, IEEE Xplore và ISI Web of Knowledge.

Luận văn đề xuất giải pháp trọng tâm nào để nâng cao chất lượng phục vụ độc giả? Giải pháp đột phá được đề xuất là triển khai dịch vụ phổ biến thông tin có chọn lọc (SDI), dịch thuật chuyên ngành khoa học kỹ thuật, kết hợp xây dựng chính sách định giá phân tầng phù hợp cho từng nhóm trong tổng số 4 nhóm người dùng tin.

Kết luận

  • Công trình đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện trong bối cảnh phát triển nền kinh tế tri thức tại Việt Nam.
  • Khảo sát thực chứng đã phân tích cấu trúc 4 nhóm người dùng tin trên tổng số hơn 35.600 bạn đọc, chỉ ra sự dịch chuyển mạnh mẽ sang tài nguyên điện tử với 564.733 trang in sao mỗi tháng.
  • Đánh giá trung thực thực trạng khai thác mạng VINAREN kết nối 63 tổ chức và hơn 16.000 tạp chí quốc tế, làm rõ những khoảng trống trong công tác marketing và định giá dịch vụ.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá có tính ứng dụng cao, gắn liền với việc ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng Thư viện điện tử quốc gia về khoa học công nghệ.
  • Xác lập lộ trình chuyển đổi số toàn diện trong giai đoạn 2015 - 2020 nhằm tối ưu hóa 100% năng lực phục vụ của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.

Độc giả, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý thông tin quan tâm có thể khai thác trực tiếp toàn văn luận văn để ứng dụng hiệu quả mô hình tổ chức dịch vụ thông tin khoa học tiên tiến vào thực tiễn đơn vị mình.