Khóa luận thực trạng rối loạn lo âu của nhân viên y tế trong bối cảnh đại dịch covid 19 tại bệnh viện đa khoa xanh pôn và một số yếu tố liên quan năm 2022

Luận văn tốt nghiệp y tế nghiên cứu thực trạng rối loạn lo âu của nhân viên y tế trong bối cảnh đại dịch covid 19 tại bệnh viện đa khoa, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

59
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Một số khái niệm

1.2. Rối loạn lo âu

1.3. Rối loạn lo âu của nhân viên y tế

1.4. Đặc điểm công việc của nhân viên y tế

1.5. Các bộ công cụ đánh giá lo âu

1.6. Đặc điểm tình trạng lo âu của nhân viên y tế trong bối cảnh đại dịch COVID-19

1.7. Các yếu tố liên quan tới tình trạng rối loạn lo âu của nhân viên y tế

1.8. Các yếu tố liên quan tới công việc của nhân viên y tế

1.9. Các yếu tố không liên quan tới nghề nghiệp

1.10. Tình hình nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.3. Thiết kế nghiên cứu

2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.5. Biến số nghiên cứu

2.6. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

2.6.1. Công cụ thu thập số liệu

2.6.2. Phương pháp thu thập số liệu

2.7. Phương pháp đo lường

2.8. Phương pháp phân tích số liệu

2.9. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

3.2. Thực trạng rối loạn lo âu của nhân viên y tế

3.3. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn lo âu của đối tượng nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Thực trạng rối loạn lo âu của đối tượng nghiên cứu

4.3. Phân tích một số yếu tố liên quan đến rối loạn lo âu của nhân viên y tế

4.4. Các yếu tố liên quan đến công việc của nhân viên y tế

4.5. Các yếu tố không liên quan đến nghề nghiệp của nhân viên y tế

4.6. Hạn chế của nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC: Phiếu thu thập thông tin nghiên cứu

Tóm tắt

I. Tổng quan về rối loạn lo âu của nhân viên y tế trong đại dịch COVID 19

Đại dịch COVID-19 đã tạo ra những thách thức lớn cho sức khỏe tâm thần của nhân viên y tế. Họ là lực lượng tuyến đầu trong cuộc chiến chống lại dịch bệnh, phải đối mặt với áp lực công việc và nguy cơ lây nhiễm cao. Tình trạng rối loạn lo âu trở thành một vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc và chất lượng cuộc sống của họ.

1.1. Định nghĩa rối loạn lo âu và ảnh hưởng đến nhân viên y tế

Rối loạn lo âu (RLLA) là tình trạng lo âu kéo dài, không thể kiểm soát, gây ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống hàng ngày. Nhân viên y tế thường gặp phải RLLA do áp lực công việc và môi trường làm việc căng thẳng.

1.2. Tình hình rối loạn lo âu trong bối cảnh đại dịch COVID 19

Theo nghiên cứu, tỷ lệ rối loạn lo âunhân viên y tế trong đại dịch COVID-19 có thể lên đến 26,8%. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp hỗ trợ kịp thời.

II. Những thách thức mà nhân viên y tế gặp phải trong đại dịch COVID 19

Trong bối cảnh đại dịch, nhân viên y tế phải đối mặt với nhiều thách thức như khối lượng công việc lớn, thiếu thốn trang thiết bị bảo hộ và áp lực tâm lý. Những yếu tố này góp phần làm gia tăng tình trạng stress trong công việcrối loạn lo âu.

2.1. Áp lực công việc và khối lượng công việc tăng cao

Khối lượng công việc của nhân viên y tế tăng lên đáng kể trong đại dịch, dẫn đến tình trạng kiệt sức và stress. Họ phải làm việc nhiều giờ liên tục mà không có thời gian nghỉ ngơi.

2.2. Thiếu thốn trang thiết bị bảo hộ và hỗ trợ

Thiếu thốn trang thiết bị bảo hộ làm tăng nguy cơ lây nhiễm cho nhân viên y tế. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà còn gây ra lo âu và căng thẳng tâm lý.

III. Phương pháp đánh giá tình trạng rối loạn lo âu của nhân viên y tế

Để đánh giá tình trạng rối loạn lo âu, nhiều công cụ đã được sử dụng, bao gồm DASS, GAD-7 và HAM-A. Những công cụ này giúp xác định mức độ lo âu và đưa ra các giải pháp can thiệp phù hợp.

3.1. Thang đo DASS và ứng dụng trong nghiên cứu

Thang đo DASS được sử dụng để đánh giá mức độ lo âu, trầm cảm và stress. Nó giúp xác định tình trạng tâm lý của nhân viên y tế trong bối cảnh đại dịch.

3.2. GAD 7 và hiệu quả trong việc sàng lọc lo âu

GAD-7 là công cụ hiệu quả để sàng lọc tình trạng rối loạn lo âu. Nó giúp phát hiện sớm các triệu chứng lo âu ở nhân viên y tế, từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời.

IV. Giải pháp hỗ trợ sức khỏe tâm thần cho nhân viên y tế

Để giảm thiểu tình trạng rối loạn lo âu, cần có các giải pháp hỗ trợ sức khỏe tâm thần cho nhân viên y tế. Các chương trình can thiệp tâm lý và hỗ trợ từ đồng nghiệp là rất cần thiết.

4.1. Chương trình hỗ trợ tâm lý tại bệnh viện

Các chương trình hỗ trợ tâm lý giúp nhân viên y tế giảm bớt căng thẳng và lo âu. Những buổi tư vấn tâm lý định kỳ có thể giúp họ chia sẻ và giải tỏa áp lực.

4.2. Tăng cường sự hỗ trợ từ đồng nghiệp và quản lý

Sự hỗ trợ từ đồng nghiệp và quản lý có thể tạo ra môi trường làm việc tích cực. Điều này giúp nhân viên y tế cảm thấy được quan tâm và giảm bớt lo âu.

V. Kết quả nghiên cứu về rối loạn lo âu của nhân viên y tế

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ rối loạn lo âunhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn là khá cao. Các yếu tố như khối lượng công việc và áp lực tâm lý có ảnh hưởng lớn đến tình trạng này.

5.1. Tỷ lệ rối loạn lo âu trong nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy 26,8% nhân viên y tế gặp phải tình trạng rối loạn lo âu. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp can thiệp kịp thời.

5.2. Các yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn lo âu

Nghiên cứu chỉ ra rằng khối lượng công việc, áp lực tâm lý và thiếu thốn trang thiết bị là những yếu tố chính dẫn đến tình trạng rối loạn lo âunhân viên y tế.

VI. Tương lai của nghiên cứu về rối loạn lo âu trong nhân viên y tế

Nghiên cứu về rối loạn lo âu trong nhân viên y tế cần được tiếp tục để tìm ra các giải pháp hiệu quả hơn. Việc nâng cao nhận thức và hỗ trợ sức khỏe tâm thần là rất quan trọng.

6.1. Nhu cầu nghiên cứu sâu hơn về rối loạn lo âu

Cần có nhiều nghiên cứu hơn để hiểu rõ hơn về tình trạng rối loạn lo âunhân viên y tế. Điều này giúp phát triển các chương trình can thiệp hiệu quả.

6.2. Tăng cường sự quan tâm đến sức khỏe tâm thần

Cần nâng cao nhận thức về sức khỏe tâm thần trong ngành y tế. Điều này sẽ giúp nhân viên y tế cảm thấy được hỗ trợ và giảm bớt tình trạng rối loạn lo âu.

14/07/2025
Khóa luận thực trạng rối loạn lo âu của nhân viên y tế trong bối cảnh đại dịch covid 19 tại bệnh viện đa khoa xanh pôn và một số yếu tố liên quan năm 2022

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm 1.1 Lo âu Trong quyển “Dịch tễ học của lo âu và rối loạn lo âu lan tỏa” có viết: “Lo âu là một chuỗi suy nghĩ và hình ảnh, có ảnh hưởng tiêu cực và tương đối khó kiểm soát; nó thể hiện một nỗ lực giải quyết vấn đề về tinh thần đối với một sự việc mà kết quả của nó là không chắc chắn nhưng có khả năng xảy ra một hoặc nhiều kết quả tiêu cực”. Đây là một trong những khái niệm đầu tiên định nghĩa về lo âu được đưa ra bởi Borkovec, Robinson, Pruzinsky và DePree [9]. Theo Barlow, lo âu là một trạng thái tâm trạng hướng tới tương lai liên quan đến việc chuẩn bị cho các tình huống tiêu cực có thể xảy ra sắp tới [10].

Tác giả Đinh Đăng Hòe cho biết: Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên bình thường của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội, mà con người phải tìm cách vượt qua [11]. Theo bác sĩ Nguyễn Khắc Viện trong từ điển tâm lý: lo âu là việc đón chờ và suy nghĩ về một điều gì đó có thể xảy ra mà không chắc có thể đối phó được. Nếu sự việc cụ thể mà đã từng gây nguy hiểm thì là lo sợ. Nhưng khi tâm lý bị rối loạn, thì cá nhân thường cảm thấy lo nhưng không biết cụ thể là lo về điều gì [12].

Như vậy, lo âu là một khái niệm chỉ phản ứng cảm xúc tự nhiên của con người trước những sự kiện mang tính khó khăn, thử thách của cuộc sống mà một người với tâm sinh lý bình thường có thể nhận thức được. Đó là cảm giác sợ hãi, mơ hồ, khó chịu lan toả đi kèm cùng các rối loạn cơ thể ở một hay nhiều bộ phận nào đó. Lo âu thực chất là tín hiệu báo động, báo trước cho cá thể biết rằng sẽ có sự đe doạ từ bên trong hoặc bên ngoài cơ thể, từ đó giúp con người tìm ra được các giải pháp phù hợp để tồn tại và phát triển [13]. Rối loạn lo âu Theo tác giả Vũ Dũng, rối loạn lo âu (RLLA) là: “Sự sợ hãi quá mức không có nguyên nhân hay do chủ quan của người bệnh và không thể giải thích 3 được do một bệnh tâm thần hay do bệnh cơ thể”.

Đây là rối loạn mà người bệnh không thể kiểm soát được, biểu hiện bền vững và mang tính chất lan tỏa, thậm chí cơ thể xảy ra dưới dạng kịch phát [14]. Theo DSM – IV, RLLA là những sự sợ hãi thái quá về một sự kiện hoặc các hành vi kéo dài trong nhiều ngày, xảy ra và lặp đi lặp lại ít nhất 6 tháng. Cá nhân thường có khó khăn khi kiểm soát những lo lắng và thường có những dấu hiệu thực thể chẳng hạn như là căng cơ, cáu bẳn, khó ngủ và cảm giác bất an [15]. Như vậy, RLLA là tình trạng bệnh lý thể hiện khi sự lo âu trở nên dai dẳng, tản mạn, không liên quan hay khu trú vào một sự kiện hoàn cảnh đặc biệt nào ở xung quanh hoặc có liên quan với những sự kiện đã qua, không còn tính chất thời sự.

Lúc này, tình trạng lo âu sẽ gây nhiều trở ngại cho công việc, học tập, sinh hoạt, ảnh hưởng xấu tới các mối quan hệ bình thường của cá nhân [16]. Rối loạn lo âu của nhân viên y tế 1. Đặc điểm công việc của nhân viên y tế Theo WHO (2006), NVYT là tất cả những người tham gia vào các hoạt động có mục đích chính là nâng cao sức khỏe cho cộng đồng [17]. Cụ thể, nhân viên y tế bao gồm bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng viên, hộ sinh, nha sĩ, kĩ thuật viên cùng những người quản lý và nhân viên khác như nhân viên kế toán, lái xe, y công, hộ lý [18].

Như vậy có thể hiểu NVYT là tất cả những người hoạt động trong lĩnh vực y tế, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân. Hiện nay với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, vấn đề SKTT ở nơi làm việc đã và đang ngày càng được quan tâm nhiều hơn. Nguy cơ mắc các RLTT và kiệt sức ở người lao động gia tăng đáng kể trong một số ngành nghề, đặc biệt là đối với NVYT. Bên cạnh các đặc điểm như lượng công việc dày đặc, phải làm việc trong nhiều giờ liên tục hoặc có những ca trực đêm dài, lĩnh vực y tế còn có nhiều yếu tố khác khiến cho NVYT dễ gặp phải tình trạng lo âu, căng thẳng hay quá tải như: áp lực khi luôn phải đưa ra quyết định nhanh chóng nhưng lại thường xuyên ở tình trạng quá tải thông tin cần xử lý 4 [19], áp lực phải cung cấp dịch vụ chăm sóc tốt nhất trong khi nguồn nhân lực còn hạn hẹp, dẫn đến sự mất quyền tự chủ và dần xói mòn các giá trị nghề nghiệp [20, 21] Các vấn đề về SKTT xảy ra đối với NVYT đã đem lại những hậu quả không hề nhỏ, có tầm ảnh hưởng tới cả trong và ngoài ngành y tế.

Những hậu quả có thể kể đến bao gồm sự sụt giảm hoặc không đồng đều về chất lượng chăm sóc bệnh nhân, tình trạng NVYT nghỉ ốm ngắn hạn hoặc dài hạn hay phải làm việc trong khi sức khỏe không tốt, lực lượng lao động không được duy trì ổn định (NVYT rời bỏ nghề nghiệp tạm thời hoặc vĩnh viễn) và thậm chí tự tử [20]. Các bộ công cụ đánh giá lo âu Hiện nay có rất nhiều các thang đo dùng để đánh giá tình trạng lo âu riêng biệt hoặc kết hợp với các RLTT khác, trong đó một số công cụ phổ biến được dùng nhiều trong các nghiên cứu: 1. Thang đánh giá lo âu- trầm cảm- stress (DASS, DASS-21) Thang đánh giá lo âu- trầm cảm- stress (Depression, Anxiety, and Stress Scales - DASS) là một bộ gồm ba thang điểm nhỏ tự đánh giá được thiết kế bởi Lovibond và cộng sự để đo lường các trạng thái cảm xúc của trầm cảm, lo lắng và stress [22]. Phiên bản đầu tiên ra đời vào năm 1995 với 42 mục, khoảng 2 năm sau tác giả cho ra mắt phiên bản rút gọn và được gọi là DASS-21.

DASS-21 có một số lợi thế so với DASS như: có ít mục hơn, cấu trúc nhân tố sạch hơn và tương quan giữa các yếu tố nhỏ hơn [23]. Mỗi thang đo nhỏ của DASS-21 (trầm cảm, lo âu và stress) có 7 mục. Mỗi mục là 1 câu hỏi với 4 tùy chọn trả lời phản ánh mức độ nghiêm trọng và được cho điểm từ 0 (hoàn toàn không áp dụng cho tôi) đến 3 (rất không áp dụng cho tôi hoặc hầu hết thời gian). Điểm trong thang đo DASS-21 cần được nhân với 2 để xác định tổng điểm cuối cùng [24].

Mức độ trầm cảm, lo âu, stress theo thang đo DASS [24] Mức độ Trầm cảm Lo lắng Căng thẳng Bình thường 0-9 0-7 0-14 Nhẹ 10-13 8-9 15-18 Vừa phải 14-20 10-14 19-25 Nặng 21-27 15-19 26-33 Cực kì nghiêm trọng 28+ 20+ 34+ 1. Thang đánh giá lo âu của Zung (SAS) Được phát triển vào năm 1971, thang tự đánh giá lo âu của Zung (Zung Self-rating Anxiety Scale - SAS) là thang đo tham chiếu chuẩn được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu, đặc biệt là trong ngành y tế [25]. SAS gồm 20 mục được xây dựng để đo mức độ lo lắng, dựa trên việc cho điểm theo 4 nhóm biểu hiện: các triệu chứng nhận thức, tự chủ, vận động và hệ thần kinh trung ương. Mỗi câu hỏi được chấm theo thang điểm loại Likert từ 1-4 tương ứng: "không có", "đôi khi", "phần lớn thời gian", "hầu hết hoặc tất cả thời gian".

Điểm của thang đo được tính bằng cách cộng tổng điểm các câu hỏi, phạm vi điểm SAS dao động từ 20-80 [26]. Ngưỡng điểm 40 được đánh giá là phù hợp nhất để xác định tình trạng lo âu [27]. Thang đánh giá lo âu của Hamilton (HAM-A/ HARS) Thang đánh giá lo âu theo Hamilton (Hamilton Anxiety Rating Scale, HARS/HAM-A) được công bố phiên bản đầu tiên bởi Max Hamilton vào năm 1959 [28]. HAM-A là một bảng câu hỏi với 14 yếu tố (cả tâm lý và cơ thể) trong đó điểm của mỗi mục được đánh giá từ 0 (không có) đến 4 (rất nghiêm trọng).

Tổng điểm của bảng câu hỏi nằm trong phạm vi 0-56 [29]. Mức độ lo âu được xác định như sau: 6 Bảng 1. Mức độ lo âu theo thang đo HAM-A [28] Điểm HAM-A Mức độ lo âu 0 – 13 Không lo âu 14 – 17 Lo âu nhẹ 18 – 25 Lo âu vừa 25 – 30 Lo âu nặng 1. Thang đánh giá mức độ lo âu về đặc điểm, trạng thái-Mẫu Y (STAI-Y) Thang đo lo âu về đặc điểm, trạng thái – Mẫu Y (State-Trait Anxiety Inventory-Form Y –STAI-Y) của Spielberger là một trong những thước đo tự đánh giá lo âu được sử dụng rộng rãi nhất [30].

STAI-Y gồm 2 tiểu thang đánh giá cả trạng thái (STAI-Y1) và đặc điểm (STAI-Y2), mỗi tiểu thang gồm 20 mục và điểm mỗi mục được tính trên thang đo Likert 4 điểm (từ 1 “hầu như không bao giờ” đến 4 “gần như luôn luôn”) [31]. Phạm vi điểm trong khoảng từ 20 đến 80 trong đó <40 là không lo âu, điểm từ 40–50 cho thấy lo âu nhẹ, 50–60 cho thấy lo âu vừa phải và >60 cho thấy lo âu nghiêm trọng [31]. Thang đánh giá rối loạn lo âu tổng quát GAD-7 Generalized Anxiety Disorder 7-item (GAD-7) là một bộ câu hỏi đánh giá tình trạng lo âu gồm 7 mục, được thiết kế bởi Robert L. Spitzer và cộng sự vào năm 2006.

Người thực hiện sẽ tự đánh giá mức độ tình trạng lo âu của mình trong 2 tuần trước đó. Điểm của bộ câu hỏi GAD-7 được tính bằng cách cộng tổng điểm của 7 câu hỏi, trong đó điểm của mỗi câu được chấm theo thang Likert từ 0-3 tương ứng: “không bao giờ”, “vài ngày”, “quá nửa số ngày trong tuần” và “hầu như mọi ngày”. GAD-7 dao động trong khoảng từ 0-21. Các điểm cắt 5, 10, 15 thể hiện mức độ lo lắng nhẹ, trung bình và nghiêm trọng.

Điểm ngưỡng 10 được tác giả khuyến nghị để sàng lọc tình trạng RLLA bởi nó tối ưu hóa độ nhạy (89%) và độ đặc hiệu (82%) [32]. Mức độ lo âu theo GAD- 7 được diễn giải như sau: 7 Bảng 1. Mức độ lo âu theo thang đo GAD-7 [32] ĐIỂM GAD-7 MỨC ĐỘ LO ÂU 0-4 Không lo âu 5-9 Lo âu nhẹ 10-14 Lo âu vừa 15-21 Lo âu nghiêm trọng GAD-7 đã được chuẩn hóa và áp dụng tại Việt Nam để đánh giá tình trạng lo âu và RLLA trên nhiều nhóm đối tượng, trong đó có NVYT [7, 33].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Rối loạn lo âu của nhân viên y tế trong đại dịch COVID-19 tại bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng lo âu mà các nhân viên y tế phải đối mặt trong bối cảnh đại dịch. Nghiên cứu chỉ ra rằng áp lực công việc, sự thiếu thốn về nguồn lực và cảm giác bất an trong môi trường làm việc đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể các triệu chứng lo âu. Tài liệu không chỉ nêu rõ nguyên nhân mà còn đề xuất các biện pháp hỗ trợ nhằm cải thiện sức khỏe tâm lý cho nhân viên y tế, từ đó nâng cao hiệu quả công việc và chất lượng dịch vụ y tế.

Để mở rộng thêm kiến thức về vấn đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận văn căng thẳng ở nhân viên y tế thuộc quân chủng phòng không không quân làm nhiệm vụ ở các cơ sở cách ly các ca mắc covid 19 tại hà nội năm 2022 và một số yếu tố liên quan", nơi phân tích căng thẳng trong bối cảnh tương tự. Ngoài ra, tài liệu "Căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp ở nhân viên y tế tham gia chống dịch covid 19 tại tp hồ chí minh vai trò và yếu tố trung gian nâng đỡ xã hội và sức bật tinh thần" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý của nhân viên y tế. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về động lực làm việc của nhân viên y tế trong tài liệu "Động lực làm việc của nhân viên y tế tham gia điều trị viêm đường hô hấp cấp do sars cov 2 và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện đa khoa trung tâm tiền giang năm 2022". Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về tình trạng sức khỏe tâm lý của nhân viên y tế trong đại dịch.