CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm 1.1 Lo âu Trong quyển “Dịch tễ học của lo âu và rối loạn lo âu lan tỏa” có viết: “Lo âu là một chuỗi suy nghĩ và hình ảnh, có ảnh hưởng tiêu cực và tương đối khó kiểm soát; nó thể hiện một nỗ lực giải quyết vấn đề về tinh thần đối với một sự việc mà kết quả của nó là không chắc chắn nhưng có khả năng xảy ra một hoặc nhiều kết quả tiêu cực”. Đây là một trong những khái niệm đầu tiên định nghĩa về lo âu được đưa ra bởi Borkovec, Robinson, Pruzinsky và DePree [9]. Theo Barlow, lo âu là một trạng thái tâm trạng hướng tới tương lai liên quan đến việc chuẩn bị cho các tình huống tiêu cực có thể xảy ra sắp tới [10].
Tác giả Đinh Đăng Hòe cho biết: Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên bình thường của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội, mà con người phải tìm cách vượt qua [11]. Theo bác sĩ Nguyễn Khắc Viện trong từ điển tâm lý: lo âu là việc đón chờ và suy nghĩ về một điều gì đó có thể xảy ra mà không chắc có thể đối phó được. Nếu sự việc cụ thể mà đã từng gây nguy hiểm thì là lo sợ. Nhưng khi tâm lý bị rối loạn, thì cá nhân thường cảm thấy lo nhưng không biết cụ thể là lo về điều gì [12].
Như vậy, lo âu là một khái niệm chỉ phản ứng cảm xúc tự nhiên của con người trước những sự kiện mang tính khó khăn, thử thách của cuộc sống mà một người với tâm sinh lý bình thường có thể nhận thức được. Đó là cảm giác sợ hãi, mơ hồ, khó chịu lan toả đi kèm cùng các rối loạn cơ thể ở một hay nhiều bộ phận nào đó. Lo âu thực chất là tín hiệu báo động, báo trước cho cá thể biết rằng sẽ có sự đe doạ từ bên trong hoặc bên ngoài cơ thể, từ đó giúp con người tìm ra được các giải pháp phù hợp để tồn tại và phát triển [13]. Rối loạn lo âu Theo tác giả Vũ Dũng, rối loạn lo âu (RLLA) là: “Sự sợ hãi quá mức không có nguyên nhân hay do chủ quan của người bệnh và không thể giải thích 3 được do một bệnh tâm thần hay do bệnh cơ thể”.
Đây là rối loạn mà người bệnh không thể kiểm soát được, biểu hiện bền vững và mang tính chất lan tỏa, thậm chí cơ thể xảy ra dưới dạng kịch phát [14]. Theo DSM – IV, RLLA là những sự sợ hãi thái quá về một sự kiện hoặc các hành vi kéo dài trong nhiều ngày, xảy ra và lặp đi lặp lại ít nhất 6 tháng. Cá nhân thường có khó khăn khi kiểm soát những lo lắng và thường có những dấu hiệu thực thể chẳng hạn như là căng cơ, cáu bẳn, khó ngủ và cảm giác bất an [15]. Như vậy, RLLA là tình trạng bệnh lý thể hiện khi sự lo âu trở nên dai dẳng, tản mạn, không liên quan hay khu trú vào một sự kiện hoàn cảnh đặc biệt nào ở xung quanh hoặc có liên quan với những sự kiện đã qua, không còn tính chất thời sự.
Lúc này, tình trạng lo âu sẽ gây nhiều trở ngại cho công việc, học tập, sinh hoạt, ảnh hưởng xấu tới các mối quan hệ bình thường của cá nhân [16]. Rối loạn lo âu của nhân viên y tế 1. Đặc điểm công việc của nhân viên y tế Theo WHO (2006), NVYT là tất cả những người tham gia vào các hoạt động có mục đích chính là nâng cao sức khỏe cho cộng đồng [17]. Cụ thể, nhân viên y tế bao gồm bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng viên, hộ sinh, nha sĩ, kĩ thuật viên cùng những người quản lý và nhân viên khác như nhân viên kế toán, lái xe, y công, hộ lý [18].
Như vậy có thể hiểu NVYT là tất cả những người hoạt động trong lĩnh vực y tế, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân. Hiện nay với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, vấn đề SKTT ở nơi làm việc đã và đang ngày càng được quan tâm nhiều hơn. Nguy cơ mắc các RLTT và kiệt sức ở người lao động gia tăng đáng kể trong một số ngành nghề, đặc biệt là đối với NVYT. Bên cạnh các đặc điểm như lượng công việc dày đặc, phải làm việc trong nhiều giờ liên tục hoặc có những ca trực đêm dài, lĩnh vực y tế còn có nhiều yếu tố khác khiến cho NVYT dễ gặp phải tình trạng lo âu, căng thẳng hay quá tải như: áp lực khi luôn phải đưa ra quyết định nhanh chóng nhưng lại thường xuyên ở tình trạng quá tải thông tin cần xử lý 4 [19], áp lực phải cung cấp dịch vụ chăm sóc tốt nhất trong khi nguồn nhân lực còn hạn hẹp, dẫn đến sự mất quyền tự chủ và dần xói mòn các giá trị nghề nghiệp [20, 21] Các vấn đề về SKTT xảy ra đối với NVYT đã đem lại những hậu quả không hề nhỏ, có tầm ảnh hưởng tới cả trong và ngoài ngành y tế.
Những hậu quả có thể kể đến bao gồm sự sụt giảm hoặc không đồng đều về chất lượng chăm sóc bệnh nhân, tình trạng NVYT nghỉ ốm ngắn hạn hoặc dài hạn hay phải làm việc trong khi sức khỏe không tốt, lực lượng lao động không được duy trì ổn định (NVYT rời bỏ nghề nghiệp tạm thời hoặc vĩnh viễn) và thậm chí tự tử [20]. Các bộ công cụ đánh giá lo âu Hiện nay có rất nhiều các thang đo dùng để đánh giá tình trạng lo âu riêng biệt hoặc kết hợp với các RLTT khác, trong đó một số công cụ phổ biến được dùng nhiều trong các nghiên cứu: 1. Thang đánh giá lo âu- trầm cảm- stress (DASS, DASS-21) Thang đánh giá lo âu- trầm cảm- stress (Depression, Anxiety, and Stress Scales - DASS) là một bộ gồm ba thang điểm nhỏ tự đánh giá được thiết kế bởi Lovibond và cộng sự để đo lường các trạng thái cảm xúc của trầm cảm, lo lắng và stress [22]. Phiên bản đầu tiên ra đời vào năm 1995 với 42 mục, khoảng 2 năm sau tác giả cho ra mắt phiên bản rút gọn và được gọi là DASS-21.
DASS-21 có một số lợi thế so với DASS như: có ít mục hơn, cấu trúc nhân tố sạch hơn và tương quan giữa các yếu tố nhỏ hơn [23]. Mỗi thang đo nhỏ của DASS-21 (trầm cảm, lo âu và stress) có 7 mục. Mỗi mục là 1 câu hỏi với 4 tùy chọn trả lời phản ánh mức độ nghiêm trọng và được cho điểm từ 0 (hoàn toàn không áp dụng cho tôi) đến 3 (rất không áp dụng cho tôi hoặc hầu hết thời gian). Điểm trong thang đo DASS-21 cần được nhân với 2 để xác định tổng điểm cuối cùng [24].
Mức độ trầm cảm, lo âu, stress theo thang đo DASS [24] Mức độ Trầm cảm Lo lắng Căng thẳng Bình thường 0-9 0-7 0-14 Nhẹ 10-13 8-9 15-18 Vừa phải 14-20 10-14 19-25 Nặng 21-27 15-19 26-33 Cực kì nghiêm trọng 28+ 20+ 34+ 1. Thang đánh giá lo âu của Zung (SAS) Được phát triển vào năm 1971, thang tự đánh giá lo âu của Zung (Zung Self-rating Anxiety Scale - SAS) là thang đo tham chiếu chuẩn được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu, đặc biệt là trong ngành y tế [25]. SAS gồm 20 mục được xây dựng để đo mức độ lo lắng, dựa trên việc cho điểm theo 4 nhóm biểu hiện: các triệu chứng nhận thức, tự chủ, vận động và hệ thần kinh trung ương. Mỗi câu hỏi được chấm theo thang điểm loại Likert từ 1-4 tương ứng: "không có", "đôi khi", "phần lớn thời gian", "hầu hết hoặc tất cả thời gian".
Điểm của thang đo được tính bằng cách cộng tổng điểm các câu hỏi, phạm vi điểm SAS dao động từ 20-80 [26]. Ngưỡng điểm 40 được đánh giá là phù hợp nhất để xác định tình trạng lo âu [27]. Thang đánh giá lo âu của Hamilton (HAM-A/ HARS) Thang đánh giá lo âu theo Hamilton (Hamilton Anxiety Rating Scale, HARS/HAM-A) được công bố phiên bản đầu tiên bởi Max Hamilton vào năm 1959 [28]. HAM-A là một bảng câu hỏi với 14 yếu tố (cả tâm lý và cơ thể) trong đó điểm của mỗi mục được đánh giá từ 0 (không có) đến 4 (rất nghiêm trọng).
Tổng điểm của bảng câu hỏi nằm trong phạm vi 0-56 [29]. Mức độ lo âu được xác định như sau: 6 Bảng 1. Mức độ lo âu theo thang đo HAM-A [28] Điểm HAM-A Mức độ lo âu 0 – 13 Không lo âu 14 – 17 Lo âu nhẹ 18 – 25 Lo âu vừa 25 – 30 Lo âu nặng 1. Thang đánh giá mức độ lo âu về đặc điểm, trạng thái-Mẫu Y (STAI-Y) Thang đo lo âu về đặc điểm, trạng thái – Mẫu Y (State-Trait Anxiety Inventory-Form Y –STAI-Y) của Spielberger là một trong những thước đo tự đánh giá lo âu được sử dụng rộng rãi nhất [30].
STAI-Y gồm 2 tiểu thang đánh giá cả trạng thái (STAI-Y1) và đặc điểm (STAI-Y2), mỗi tiểu thang gồm 20 mục và điểm mỗi mục được tính trên thang đo Likert 4 điểm (từ 1 “hầu như không bao giờ” đến 4 “gần như luôn luôn”) [31]. Phạm vi điểm trong khoảng từ 20 đến 80 trong đó <40 là không lo âu, điểm từ 40–50 cho thấy lo âu nhẹ, 50–60 cho thấy lo âu vừa phải và >60 cho thấy lo âu nghiêm trọng [31]. Thang đánh giá rối loạn lo âu tổng quát GAD-7 Generalized Anxiety Disorder 7-item (GAD-7) là một bộ câu hỏi đánh giá tình trạng lo âu gồm 7 mục, được thiết kế bởi Robert L. Spitzer và cộng sự vào năm 2006.
Người thực hiện sẽ tự đánh giá mức độ tình trạng lo âu của mình trong 2 tuần trước đó. Điểm của bộ câu hỏi GAD-7 được tính bằng cách cộng tổng điểm của 7 câu hỏi, trong đó điểm của mỗi câu được chấm theo thang Likert từ 0-3 tương ứng: “không bao giờ”, “vài ngày”, “quá nửa số ngày trong tuần” và “hầu như mọi ngày”. GAD-7 dao động trong khoảng từ 0-21. Các điểm cắt 5, 10, 15 thể hiện mức độ lo lắng nhẹ, trung bình và nghiêm trọng.
Điểm ngưỡng 10 được tác giả khuyến nghị để sàng lọc tình trạng RLLA bởi nó tối ưu hóa độ nhạy (89%) và độ đặc hiệu (82%) [32]. Mức độ lo âu theo GAD- 7 được diễn giải như sau: 7 Bảng 1. Mức độ lo âu theo thang đo GAD-7 [32] ĐIỂM GAD-7 MỨC ĐỘ LO ÂU 0-4 Không lo âu 5-9 Lo âu nhẹ 10-14 Lo âu vừa 15-21 Lo âu nghiêm trọng GAD-7 đã được chuẩn hóa và áp dụng tại Việt Nam để đánh giá tình trạng lo âu và RLLA trên nhiều nhóm đối tượng, trong đó có NVYT [7, 33].