CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Định nghĩa các thuật ngữ trong nghiên cứu 1.1 Khái niệm căng thẳng Thuật ngữ ‘stress’ hay được dịch là ‘căng thẳng’ được sử dụng rộng rãi hiện nay được đặt ra bởi Hans Selye vào năm 1936. Ông là một trong những nhà khoa học tiên phong định nghĩa căng thẳng một cách khoa học thông qua các nghiên cứu cụ thể. Căng thẳng được định nghĩa là "phản ứng không cụ thể của cơ thể đối với bất kỳ nhu cầu thay đổi nào" (Hans Selye, 1976). Khái niệm này đã có tác động rộng rãi đến cộng đồng khoa học trong nhiều lĩnh vực như y học, tâm lý học và thậm chí cả chăn nuôi động vật (Tan & Yip, 2018).
Mặc dù căng thẳng thường được biết đến là có ý nghĩa tiêu cực nhưng Selye (1974) đã chỉ ra rằng căng thẳng có hai mặt bao gồm căng thẳng tốt (eustress) và căng thẳng xấu (đau khổ) (Goldberger & Breznitz, 2010). Eustress được hiểu là kết quả của các yếu tố gây căng thẳng có lợi có liên quan đến cảm xúc tích cực, sức khỏe và hiệu suất tối ưu và có khả năng cải thiện chất lượng cuộc sống. Những phản ứng căng thẳng này sẽ giúp chúng ta có thể nhanh chóng lấy lại năng lượng mà không ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe khi vượt qua. Yếu tố gây căng thẳng này thường sẽ ở một mức chịu đựng nhất định và có thể kiểm soát được trong một thời gian nhất định tùy cơ địa mỗi người.
Mặc dù vậy, nếu căng thẳng trở nên quá mức hoặc xảy ra với tần suất lặp đi lặp lại trong thời gian dài, nó sẽ dẫn đến tình trạng đau khổ (Le Ferve et al. Cụ thể, nó sẽ gây ra các triệu chứng của cơ thể con người như đau đầu (Chen, 2009), trầm cảm (Kagee et al., 2018) hoặc lo lắng (McFarland & Shaffer, 2018).1 Mô hình stress của tác giả Hans Selye (1974) Nói một cách dễ hiểu hơn, từ điển tâm lý học Hoa Kỳ (2021) đã định nghĩa căng thẳng là “phản ứng sinh lý hoặc tâm lý đối với các tác nhân gây căng thẳng bên trong hoặc bên ngoài” (APA, 2021). Do đó, căng thẳng là phản ứng bình thường đối với các vấn đề mà con người gặp phải hàng ngày, nhưng nếu không được kiểm soát tốt, nó có thể khiến cuộc sống bị đảo lộn hoàn toàn. Trong một nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe nhân viên y tế, có tới 45% nhân viên y tế thường xuyên lo lắng nhiễm bệnh đặc biệt tại khoa Giải phẫu bệnh, Pháp y.
Bên cạnh đó, nhân viên y tế tại khoa Tâm thần, Cấp cứu và Gây mê hồi sức là tỷ lệ căng thẳng cao nhất (Hà Thế Tấn, 2010). Cũng theo nghiên cứu này, nhóm nhân viên y tế từng bị lây nhiễm bệnh trong quá trình công tác có tỷ lệ căng thẳng cao gấp 2. Nghiên cứu trên đối tượng điều dưỡng tại bệnh viện nhi Thái Bình chỉ ra yếu tố gây stress nhiều nhất cho các điều dưỡng đến từ việc bệnh nhi và thân nhân có những đòi hỏi bất hoặc có những lời nói lăng mạ, sỉ nhục (Tăng Thị Hảo et al. Tại ba tuyến bệnh viện ở Cần Thơ và Hậu Giang, tỷ lệ stress nghề nghiệp của điều dưỡng ở mức cao chiếm đến 45,2%, mức trung bình chiếm 42.8% (Lê Thành Tài et al.
Tại bệnh viện Đa khoa Sài Gòn, khảo sát chỉ ra có 100% nhân viên y tế thường xuyên gặp căng thẳng từ công việc (Phan Thị 6 Mỹ Linh, 2005). Trong nghiên cứu này, tác giả chọn đo lường đánh giá chủ quan của đối tượng về các tình huống căng thẳng trong cuộc sống mà cụ thể là đại dịch theo thang đo căng thẳng cảm nhận liên quan đến đại dịch COVID-19 (PSS-10-C) (Campo-Arias et al.2 Khái niệm kiệt sức nghề nghiệp Kiệt sức nghề nghiệp (Burnout) là một khái niệm được Freudenberger đưa ra vào năm 1974 để mô tả trạng thái kiệt sức về mặt cảm xúc và tinh thần. Nó bao gồm các dấu hiệu thể lý như cảm giác kiệt sức và mệt mỏi, đau đầu, rối loạn tiêu hóa, khó thở, khó ngủ. Người trong tình trạng kiệt sức nghề nghiệp cũng khó giữ cảm xúc ổn định thường tức giận, kích động trước các kích thích từ bên ngoài.
Kiệt sức nghề nghiệp thường dễ xảy ra ở những người tận tâm và cam kết với công việc (Freudenberger, 1974). Hội chứng kiệt sức nghề nghiệp (BOS) là trải nghiệm mệt mỏi trong thời gian dài và giảm mức độ động lực và hứng thú với công việc, dẫn đến giảm năng suất lao động. Tình trạng này diễn ra có thể do người lao động đối diện với quá nhiều áp lực trong môi trường làm việc nhưng không thể phục hồi (Embriaco et al. Kiệt sức nghề nghiệp được Maslach và Jackson phát triển thành mô hình kiệt sức gồm 3 khía cạnh: kiệt quệ về cảm xúc, phi nhân hoá mối quan hệ và giảm thiểu cảm giác hoàn thành cá nhân.
Theo các tác giả trên, khi một nhân viên ở trong trạng thái kiệt sức nghề nghiệp, họ sẽ cảm thấy không còn khả năng cống hiến, có những thái độ thô lỗ, phản ứng tiêu cực với khách hàng. Ngoài ra, họ còn cảm thấy không hài lòng với bản thân và thành tích của mình trong công việc (Maslach & Jackson, 1981). Trong đó, cạn kiệt cảm xúc được xem là yếu tố cốt lõi của kiệt sức nghề nghiệp (Maslach et al. Ban đầu, kiệt sức nghề nghiệp được cho rằng có liên quan đến các ngành dịch vụ làm việc với con người (Maslach & Jackson, 1981).
Tuy nhiên, các nghiên cứu sau này, nhiều yếu tố như áp lực thời gian, khả năng kiểm soát thấp, mối quan hệ với đồng nghiệp hoặc với người giám sát, đặc điểm cá nhân đều có thể tác động tới tình trạng kiệt sức nghề nghiệp (Maslach et al.3 Khái niệm sức bật tinh thần Từ năm 1973, Garmezy đã đề cập đến khái niệm sức bật tinh thần (resilience) đã được đề cập trong nghiên cứu của mình (Garmezy, 1973). Đến năm 1980, các nghiên cứu về trẻ em có cha mẹ mắc tâm thần phân liệt cũng chú ý đến sức bật tinh thần như một chủ đề đáng được quan tâm và nghiên cứu sâu (Masten et al. Sức bật tinh thần là kết quả của việc thích ứng thành công với nghịch cảnh (Zautra et al., 2010), được mô tả là khả năng chịu đựng những thất bại, thích nghi một cách tích cực và phục hồi từ các nghịch cảnh (Luthar & Cicchetti, 2001). Hơn nữa, sức bật tinh thần được giải thích là khả năng bật dậy sau những trải nghiệm cảm xúc tiêu cực và thích ứng một cách linh hoạt với những yêu cầu thay đổi của các trải nghiệm gây căng thẳng (Lazarus, 1993) Các yếu tố của sức bật tinh thần được cho là khác nhau và thay đổi tùy vào các giai đoạn khác nhau của cuộc đời con người (Tusaie & Dyer, 2004).
Các nghiên cứu cho rằng sức bật tinh thần chia làm 2 yếu tố là nội lực và từ môi trường. Trong đó, yếu tố nội lực thể hiện ở các khía cạnh như tính sáng tạo (Simonton, 2000), hài hước (Masten, 1994), sự lạc quan, trí thông minh (Chang & Sanna, 2001; Tusaie-Mumford, 2001). Yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sức bật tinh thần bao gồm nâng đỡ xã hội được nhận thức hoặc cảm giác sự kết nối và các sự kiện trong cuộc sống (Masten, 1994). Trong nghiên cứu này, tác giả chọn định nghĩa sức bật tinh thần gồm các yếu tố khả năng phục hồi, các đặc điểm cá nhân, phong cách ứng phó, các mối quan hệ xã hội… để hướng đến việc giảm thiểu các hệ quả tiêu cực về cảm xúc, triệu chứng cơ thể do ảnh hưởng của các sự kiện tiêu cực bên ngoài (Smith et al.
Khái niệm này sẽ được đo lường bằng thang Brief Resilience Scale (BRS) (Smith et al. Một số ý kiến cho rằng sức bật tinh thần là một khái niệm mang tính chất bẩm sinh nội tại (Ungar, 2008). Các lý thuyết khác cho rằng sức bật tinh thần có thể cải thiện hoặc suy thoái (Steinhardt & Dolbier, 2008). Bên cạnh đó, lại có nghiên cứu chỉ ra rằng khả năng phục hồi là kết quả của tương tác giữa cá nhân và môi trường và các quá trình phát triển sự an lành 8 cũng như bảo vệ trước các yếu tố rủi ro (Zautra et al.
Theo APA: “sức bật tinh thần liên quan đến các hành vi, suy nghĩ và hành động mà bất kỳ ai cũng có thể học hỏi và phát triển” (APA, 2012). Nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người có xu hướng hay ra ngoài, tập thể dục nhiều và nhận được sự hỗ trợ từ gia đình, bạn bè, những người thân quen có sức bật tinh thần cao hơn. Những người có giấc ngủ tốt và cầu nguyện thường xuyên cũng được ghi nhận sức bật tinh thần cao (Killgore et al. Như vậy, theo nghiên cứu trên, sức bật tinh thần tâm lý khi đối mặt với đại dịch có liên quan đến các yếu tố có thể tác động và cải thiện (Killgore et al.
Nghiên cứu trên nhóm đối tượng điều dưỡng chỉ ra việc phát triển và tăng cường sức bật tinh thần có thể giúp giảm khả năng bị tổn thương khi đối diện với khó khăn tại nơi làm việc (Jackson et al. Đồng thời, khi so sánh sự khác nhau của nhóm các bác sĩ bị kiệt sức nghề nghiệp và nhóm không gặp tình trạng này, sức bật tinh thần được cho là một yếu tố quan trọng tạo nên sự khác biệt (Fox et al.4 Khái niệm nâng đỡ xã hội Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nâng đỡ xã hội (social support). Theo từ điển Tâm lý học Cambridge, nâng đỡ xã hội được định nghĩa là sự giúp đỡ, nâng đỡ tinh thần cho người khác, đặc biệt là trong những tình huống gây căng thẳng (Matsumoto, 2009). Nâng đỡ xã hội còn được xem là quá trình giao tiếp qua lại (có lời hoặc không lời) để cải thiện cảm nhận của một cá nhân về năng lực, khả năng ứng phó, ý thức giá trị bản thân, sự thuộc về (Mattson & Hall, 2011).
Các định nghĩa trên dù có những điểm khác biệt nhưng mang tính bổ sung cho nhau. Theo Gerrig và cộng sự (2002) thì ba nguồn lực là viện trợ vật chất, hỗ trợ thông tin và hỗ trợ cảm xúc xã hội từ những người xung quanh để 9 giúp cá nhân ứng phó với những khó khăn và căng thẳng mà họ gặp phải trong cuộc sống được xem là nâng đỡ xã hội. Tuy nhiên, tác giả Samuel và cộng sự đã định nghĩa nâng đỡ xã hội là sự nâng đỡ về tinh thần hoặc giúp đỡ hữu hình khi có nhu cầu bởi thành viên trong gia đình, bạn bè và những người quan trọng khác (Samuel & Burger, 2020).