Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp bác sĩ đa khoa của tác giả Nguyễn Minh Công (Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội, thực hiện năm 2022 dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Hữu Chiến và ThS. Nguyễn Viết Chung) tiếp cận vấn đề sức khỏe tâm thần của lực lượng y tế tuyến đầu trong đại dịch COVID-19. Đại dịch do virus SARS-CoV-2 bùng phát trên quy mô toàn cầu từ cuối năm 2019 đã đặt các hệ thống y tế trước những thách thức chưa từng có. Trích dẫn định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1948) và cảnh báo từ Tổng thư ký Liên Hợp Quốc António Guterres, tác giả chỉ ra rằng khủng hoảng y tế công cộng không chỉ gây tổn hại thể chất mà còn kéo theo khủng hoảng sức khỏe tâm thần nghiêm trọng, trong đó nhân viên y tế là nhóm chịu tác động trực tiếp và nặng nề nhất.

Tại Việt Nam, nhân viên y tế trực tiếp tham gia điều trị bệnh nhân COVID-19 phải đối mặt với tình trạng quá tải công việc, nguy cơ phơi nhiễm mầm bệnh, áp lực thời gian, điều kiện làm việc căng thẳng và việc cách ly gia đình dài ngày. Các sang chấn tâm lý này kéo theo nguy cơ gia tăng trầm cảm, lo âu, stress, dẫn đến kiệt sức nghề nghiệp và tăng nguy cơ sai sót chuyên môn. Xuất phát từ thực tế đó, nghiên cứu được triển khai tại Bệnh viện dã chiến khu ký túc xá Cao đẳng Cộng đồng tỉnh Đồng Tháp nhằm giải quyết 2 mục tiêu cụ thể:

  1. Xác định tỉ lệ trầm cảm, lo âu, stress trên nhân viên y tế điều trị cho bệnh nhân mắc SARS-CoV-2 tại Bệnh viện dã chiến khu ký túc xá Cao đẳng Cộng đồng tỉnh Đồng Tháp.
  2. Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng trầm cảm, lo âu, stress trên nhân viên y tế điều trị cho bệnh nhân mắc SARS-CoV-2 tại Bệnh viện dã chiến khu ký túc xá Cao đẳng Cộng đồng tỉnh Đồng Tháp.
  • Đối tượng nghiên cứu: Cán bộ y tế và sinh viên tình nguyện (bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, sinh viên y khoa) trực tiếp làm việc tại bệnh viện dã chiến, có thời gian tham gia chống dịch tối thiểu từ 2 tuần trở lên.
  • Phạm vi không gian: Bệnh viện dã chiến khu ký túc xá Cao đẳng Cộng đồng tỉnh Đồng Tháp.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu được thu thập và phân tích trong giai đoạn từ ngày 09/09/2021 đến ngày 27/01/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các lý thuyết tâm thần học và sinh lý học kinh điển:

  • Khái niệm và sinh bệnh học trầm cảm: Dựa theo Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD-10), trầm cảm được định nghĩa qua 3 triệu chứng chính (khí sắc trầm kéo dài ít nhất 2 tuần, mất quan tâm thích thú, giảm năng lượng) và 7 triệu chứng phổ biến đi kèm. Cơ chế sinh bệnh học gắn liền với sự suy giảm nồng độ các chất dẫn truyền thần kinh đơn amine (Norepinephrine, Serotonin 5-HT, Dopamine) tại khe synap và rối loạn chức năng trục nội tiết dưới đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận.
  • Khái niệm lo âu và stress: Lo âu được phân tích qua 4 nhóm biểu hiện lâm sàng gồm nhận thức, sinh lý thực vật, hành vi và cảm xúc. Vấn đề stress được tổng quan qua phản ứng "chiến đấu hoặc bỏ chạy" (fight-or-flight) của Walter Cannon (1914, 1935) gắn với hormone Adrenaline tủy thượng thận, hội chứng thích nghi chung (General Adaptation Syndrome) của Hans Selye (1936) liên quan đến Glucocorticoid vỏ thượng thận, cùng định nghĩa về căng thẳng nghề nghiệp của Viện Quốc gia về An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp Hoa Kỳ (NIOSH).
  • Bộ công cụ đo lường DASS-21: Sử dụng thang đo Depression, Anxiety and Stress Scale phiên bản rút gọn 21 câu của Syd Lovibond và Peter Lovibond (1995). Thang đo gồm 3 tiểu thang đo (mỗi tiểu thang gồm 7 câu hỏi, tính điểm Likert 4 mức từ 0 đến 3 điểm; tổng điểm mỗi phân nhóm được nhân hệ số 2 để quy đổi tương đương thang DASS-42). Thang đo đã được chuẩn hóa quốc tế với hệ số tin cậy nội tại Cronbach's alpha > 0.88 và được Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Việt Nam khuyến nghị sử dụng.
Mức độ rối loạn Điểm Trầm cảm (DASS-21) Điểm Lo âu (DASS-21) Điểm Stress (DASS-21)
Bình thường 0 – 9 0 – 7 0 – 14
Nhẹ 10 – 13 8 – 9 15 – 18
Vừa 14 – 20 10 – 14 19 – 25
Nặng 21 – 27 15 – 19 26 – 33
Rất nặng ≥ 28 ≥ 20 ≥ 34
  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang (cross-sectional study).
  • Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện toàn bộ; thu nhận được 54 nhân viên y tế đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn và đồng ý tham gia khảo sát.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu: Sử dụng bộ câu hỏi khảo sát cấu trúc trực tuyến thiết kế qua nền tảng Google Forms.
  • Phương pháp phân tích thống kê: Dữ liệu được làm sạch và xử lý trên phần mềm SPSS 20.0. Thống kê mô tả tính toán tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, trung vị và độ lệch chuẩn. Thống kê suy luận xác định mối liên quan thông qua tỷ số chênh hiện mắc POR (Prevalence Odds Ratio) kèm khoảng tin cậy 95% (95% KTC), lấy mức ý nghĩa thống kê $p < 0.05$.
  • Kiểm soát sai số và y đức: Bộ câu hỏi được chuẩn hóa qua điều tra thử và tham vấn chuyên gia; quy trình nhập liệu được kiểm tra chéo độc lập ngẫu nhiên 50% phiếu trả lời. Nghiên cứu bảo đảm tính tự nguyện, bảo mật thông tin định danh và phục vụ thuần túy mục đích khoa học.

Nội dung chính theo từng chương

Đặt vấn đề

Phần mở đầu hệ thống hóa tính cấp thiết của nghiên cứu từ góc nhìn y tế công cộng và tâm thần học. Tác giả nhấn mạnh thực tế đại dịch COVID-19 tạo ra áp lực tâm lý cực độ lên nhân viên y tế, làm gia tăng tỷ lệ kiệt sức, lạm dụng thuốc, bỏ việc và phát sinh các sai sót trong chăm sóc điều trị. Việc khảo sát thực trạng sức khỏe tinh thần tại các cơ sở điều trị dã chiến cấp tỉnh là cơ sở thực nghiệm để hoạch định chính sách bảo vệ nhân lực y tế.

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 cung cấp tổng quan y văn toàn diện về bệnh học tâm thần, đặc điểm sinh học của virus SARS-CoV-2 và tổng hợp các công trình nghiên cứu dịch tễ học liên quan:

  • Hệ thống hóa tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm theo ICD-10, các thể lâm sàng (nhẹ, vừa, nặng có hoặc không có loạn thần) và các cơ chế tương tác giữa nhân cách, môi trường với phản ứng stress.
  • Điểm luận các nghiên cứu quốc tế: Anthony Amanfo Ofori và cộng sự tại Ghana ghi nhận tỷ lệ trầm cảm 21.1%, lo âu 27.8%, stress 8.2%; Z.P. Huang và cộng sự tại Trung Quốc ghi nhận 25.37% lo âu; Nicholas W.S. Chew và cộng sự (nghiên cứu đa trung tâm tại Singapore và Ấn Độ) ghi nhận trầm cảm 10.6% và lo âu 15.2%; Yinmei Yang và cộng sự tại Hồ Bắc trong đỉnh dịch ghi nhận trầm cảm 37.8%, lo âu 43.0%, stress 38.5%; Shamona Maharaj và cộng sự tại Úc khảo sát điều dưỡng qua thang DASS-42 ghi nhận trầm cảm 32.4%, lo âu 41.2%, stress 41.2%.
  • Điểm luận các nghiên cứu tại Việt Nam: Vũ Thị Cúc và cộng sự (2021) tại TP. Hồ Chí Minh ghi nhận tỷ lệ căng thẳng lên tới 80.6%; Bùi Thị Thanh Vân và cộng sự (2020) tại Hà Nội ghi nhận trầm cảm 5.7%, lo âu 19.5%, stress 8.0%; Hồ Thị Thu Hương và Trần Kim Trang (2015) trên điều dưỡng ghi nhận trầm cảm 25.9%, lo âu 47.6%, stress 35.5%; Nguyễn Mạnh Quân và cộng sự (2018) tại Bệnh viện Trưng Vương ghi nhận trầm cảm 20.4%, lo âu 31.5%, stress 10.5%.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết khung phương pháp luận:

  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Nhân viên y tế (bác sĩ, điều dưỡng, sinh viên tình nguyện, kỹ thuật viên) làm việc tối thiểu 2 tuần tại Bệnh viện dã chiến Ký túc xá Cao đẳng Cộng đồng tỉnh Đồng Tháp. Tiêu chuẩn loại trừ: Đối tượng vắng mặt tại thời điểm điều tra hoặc từ chối tham gia.
  • Cỡ mẫu thu thập được: $n = 54$.
  • Xác định hệ thống biến số nghiên cứu: Biến độc lập gồm các đặc điểm nhân khẩu học (nhóm tuổi $< 30$ hoặc $\ge 30$; giới tính; dân tộc; tôn giáo; tình trạng hôn nhân) và đặc điểm công việc (chuyên môn; thời gian chống dịch $< 1$ tháng hoặc $\ge 1$ tháng; số giờ làm việc/ngày $\le 8$ giờ hoặc $> 8$ giờ; chất lượng giấc ngủ trong 2 tuần qua; tâm lý lo sợ nhiễm bệnh). Biến phụ thuộc là mức độ trầm cảm, lo âu, stress theo ngưỡng điểm DASS-21.
  • Quy trình thu thập trực tuyến qua Google Forms, mã hóa dữ liệu, xử lý thống kê bằng SPSS 20.0, các kỹ thuật kiểm soát sai số nhớ lại, sai số nhập liệu và tuân thủ các nguyên tắc y đức.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Phần kết quả phản ánh các dữ liệu định lượng cụ thể:

  • Đặc điểm mẫu nghiên cứu ($n = 54$):
    • Tuổi: Nhóm $< 30$ tuổi chiếm 59.3% (32 người), nhóm $\ge 30$ tuổi chiếm 40.7% (22 người).
    • Giới tính: Nữ giới chiếm 63.0% (34 người), nam giới chiếm 37.0% (20 người).
    • Dân tộc và tôn giáo: Dân tộc Kinh chiếm 92.6% (50 người), dân tộc khác chiếm 7.4% (4 người); 98.1% không theo tôn giáo (53 người), 1.9% theo Thiên Chúa giáo (1 người).
    • Tình trạng hôn nhân: Độc thân chiếm 63.0% (34 người), đã kết hôn sống cùng vợ/chồng chiếm 37.0% (20 người), không có trường hợp ly hôn/góa.
    • Vị trí chuyên môn: Bác sĩ chiếm 37.0% (20 người), Điều dưỡng chiếm 33.3% (18 người), Sinh viên tình nguyện chiếm 25.9% (14 người), Kỹ thuật viên chiếm 3.7% (2 người).
    • Điều kiện công việc và sinh hoạt: Thời gian tham gia chống dịch chia đều 50.0% dưới 1 tháng và 50.0% từ 1 tháng trở lên (mỗi nhóm 27 người); Thời gian làm việc mỗi ngày có 50.0% làm việc $\le 8$ giờ và 50.0% làm việc $> 8$ giờ.
    • Giấc ngủ: 44.4% ngủ đủ giấc (24 người), 46.3% ngủ không đủ giấc (25 người), 9.3% mất ngủ (5 người) (tổng tỷ lệ rối loạn giấc ngủ là 55.6%).
    • Tâm lý lây nhiễm: 70.4% lo sợ bị nhiễm SARS-CoV-2 (38 người), 29.6% không sợ (16 người).
  • Tỷ lệ hiện mắc trầm cảm, lo âu, stress:
    • Trầm cảm: Tỷ lệ chung là 22.3% (trong đó: nhẹ 16.7%, vừa 3.7%, rất nặng 1.9%, không ghi nhận mức độ nặng; bình thường 77.8%).
    • Lo âu: Tỷ lệ chung là 48.1% (trong đó: nhẹ 11.1%, vừa 24.1%, nặng 2.6%, rất nặng 7.4%; bình thường 51.9%).
    • Stress: Tỷ lệ chung là 22.2% (trong đó: nhẹ 16.7%, nặng 1.9%, rất nặng 7.4% / 7.7%; bình thường 77.8%).
  • Phân tích các yếu tố liên quan:
    • Các yếu tố cá nhân (tuổi, giới tính, hôn nhân): Tỷ lệ trầm cảm ở nhóm $< 30$ tuổi có $\text{POR} = 0.397$; nam giới có $\text{POR} = 2.0$ so với nữ; nhóm độc thân có $\text{POR} = 0.778$ so với nhóm đã kết hôn (tất cả đều có $p > 0.05$). Đối với lo âu, nhóm $< 30$ tuổi có $\text{POR} = 1.2$; nam giới có $\text{POR} = 0.818$; nhóm độc thân có $\text{POR} = 0.889$ ($p > 0.05$). Đối với stress, nhóm $< 30$ tuổi có $\text{POR} = 1.5$; nam giới có $\text{POR} = 1.268$; nhóm độc thân có $\text{POR} = 1.231$ ($p > 0.05$). Sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê.
    • Các yếu tố công việc: Thời gian chống dịch và số giờ làm việc hàng ngày không cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê với cả 3 rối loạn ($p > 0.05$).
    • Phát hiện có ý nghĩa thống kê đối với tình trạng lo âu: Nhân viên y tế ngủ đủ giấc có nguy cơ lo âu thấp hơn rõ rệt so với nhóm thiếu ngủ/mất ngủ với $\text{POR} = 0.264$ (95% KTC: 0.073 – 0.957; $p < 0.05$). Nhân viên y tế có tâm lý lo sợ nhiễm bệnh có nguy cơ lo âu cao gấp 4.125 lần so với nhóm không lo sợ ($p < 0.05$).

Chương 4: Bàn luận

Tác giả so sánh các phát hiện với y văn:

  • Tỷ lệ trầm cảm (22.3%) tương đồng với nghiên cứu của Anthony Amanfo Ofori tại Ghana (21.1%), Hồ Thị Thu Hương tại TP. Hồ Chí Minh (25.9%) và Nguyễn Mạnh Quân tại Bệnh viện Trưng Vương (20.4%); cao hơn nghiên cứu của Nicholas W.S. Chew (10.6%) và Bùi Thị Thanh Vân (5.7%); thấp hơn nghiên cứu của Yinmei Yang tại Hồ Bắc (37.8%) do thời điểm nghiên cứu tại Đồng Tháp dịch bệnh đã qua giai đoạn đỉnh điểm căng thẳng nhất.
  • Tỷ lệ lo âu (48.1%) ở mức rất cao, vượt trội so với nghiên cứu của Ofori (27.8%), Huang (25.37%), Chew (15.2%), Yang (43.0%) và Bùi Thị Thanh Vân (19.5%), nhưng tương đương với nghiên cứu của Hồ Thị Thu Hương trên điều dưỡng (47.6%). Nguyên nhân do đối tượng phải trực tiếp điều trị bệnh nhân F0 tại bệnh viện dã chiến với khối lượng ca bệnh lớn và nguy cơ phơi nhiễm thường trực.
  • Tỷ lệ stress (22.2%) cao hơn các nghiên cứu thời điểm bình thường hoặc không trực tiếp chống dịch (như nghiên cứu của Ofori 8.2%, Bùi Thị Thanh Vân 8.0%, Nguyễn Mạnh Quân 10.5%), nhưng thấp hơn nghiên cứu tại tâm dịch Hồ Bắc (38.5%).
  • Luận giải mối liên quan: Kết quả không tìm thấy mối liên hệ giữa đặc điểm nhân khẩu học với rối loạn tâm thần phù hợp với nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Vân và Anthony Amanfo Ofori; đồng thời khẳng định việc thiếu ngủ và tâm lý sợ lây nhiễm là hai yếu tố nguy cơ hàng đầu kích hoạt phản ứng lo âu bệnh lý.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã lượng hóa chi tiết bức tranh sức khỏe tâm thần của nhân viên y tế tại một bệnh viện dã chiến tuyến tỉnh trong giai đoạn dịch COVID-19 bùng phát:

Tình trạng tâm thần Tỷ lệ hiện mắc (%) Mức độ nhẹ (%) Mức độ vừa (%) Mức độ nặng (%) Mức độ rất nặng (%)
Trầm cảm 22.3% 16.7% 3.7% 0.0% 1.9%
Lo âu 48.1% 11.1% 24.1% 2.6% 7.4%
Stress 22.2% 16.7% 0.0% 1.9% 7.4% / 7.7%
  • Kết quả trọng tâm về yếu tố liên quan: Xác định được 2 yếu tố có mối liên quan mang ý nghĩa thống kê đối với tình trạng lo âu của nhân viên y tế:
    1. Chất lượng giấc ngủ: Ngủ đủ giấc là yếu tố bảo vệ giúp giảm nguy cơ lo âu ($\text{POR} = 0.264$; 95% KTC: 0.073 – 0.957; $p < 0.05$).
    2. Tâm lý sợ nhiễm SARS-CoV-2: Nhân viên y tế mang tâm lý lo sợ nhiễm bệnh có nguy cơ mắc lo âu cao gấp 4.125 lần so với nhóm không sợ ($p < 0.05$).
    3. Các yếu tố về tuổi đời, giới tính, tình trạng hôn nhân, thâm niên chống dịch và số giờ làm việc hàng ngày chưa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê ($p > 0.05$).
  • Đóng góp học thuật và thực tiễn: Khóa luận cung cấp dữ liệu thực chứng hiếm hoi về tình trạng tâm lý của cán bộ y tế và sinh viên tình nguyện tại cơ sở điều trị dã chiến ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu làm nổi bật sự cần thiết phải thiết lập các biện pháp can thiệp sớm, xây dựng chế độ luân phiên ca kíp hợp lý nhằm bảo đảm thời gian ngủ nghỉ, cung cấp đầy đủ phương tiện phòng hộ cá nhân để giải tỏa tâm lý lo sợ phơi nhiễm cho lực lượng tuyến đầu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự chỉ ra các hạn chế phương pháp luận:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang nên số liệu chỉ phản ánh tình trạng tâm thần của nhân viên y tế tại một thời điểm nhất định, không cho phép xác lập mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố công việc với sự khởi phát rối loạn.
  • Tính chất công cụ đo lường: Thang đo DASS-21 là bảng kiểm tự điền đóng vai trò sàng lọc phát hiện nguy cơ ban đầu, hoàn toàn không có giá trị chẩn đoán xác định bệnh lý tâm thần lâm sàng theo tiêu chuẩn chuyên khoa.
  • Quy mô mẫu: Cỡ mẫu tương đối hạn chế ($n = 54$), chọn mẫu thuận tiện tại một cơ sở bệnh viện dã chiến duy nhất, làm giảm khả năng suy rộng kết quả cho toàn bộ nhân viên y tế tham gia chống dịch trên toàn quốc.
  • Kinh nghiệm nghiên cứu viên: Tác giả là sinh viên thực hiện khóa luận tốt nghiệp nên kinh nghiệm trong khâu thu thập và phân tích dữ liệu dịch tễ học tâm thần còn có những giới hạn nhất định.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng các nghiên cứu thuần tập theo dõi dọc (longitudinal studies) với cỡ mẫu lớn hơn và đa trung tâm, kết hợp giữa thang đo sàng lọc tâm lý với phỏng vấn chẩn đoán tâm thần lâm sàng để theo dõi các tác động tâm lý kéo dài hậu đại dịch.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên y khoa và học viên sau đại học: Sinh viên các ngành Y đa khoa, Y tế công cộng, Điều dưỡng và Tâm thần học có thể tham khảo quy trình triển khai nghiên cứu cắt ngang, kỹ thuật vận dụng thang đo DASS-21 trong dịch tễ học thực địa và phương pháp phân tích chỉ số $\text{POR}$ trên phần mềm SPSS.
  • Người làm nghiên cứu về sức khỏe nghề nghiệp: Các chương tổng quan và bàn luận cung cấp hệ thống số liệu so sánh chi tiết, đối chiếu đa chiều giữa các nghiên cứu trong nước (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh) và quốc tế (Ghana, Trung Quốc, Singapore, Ấn Độ, Úc).
  • Cán bộ quản lý y tế: Bằng chứng thực nghiệm từ khóa luận là cơ sở định lượng để các nhà quản lý bệnh viện xây dựng phương án phân bổ ca trực, bảo đảm chất lượng giấc ngủ và hỗ trợ tâm lý cho nhân viên y tế khi ứng phó với các tình huống khẩn cấp y tế công cộng.

Câu hỏi thường gặp

Thang đo DASS-21 được tính điểm và phân loại mức độ trong nghiên cứu như thế nào?

Thang DASS-21 gồm 21 câu hỏi tự đánh giá, chia đều cho 3 phân nhóm: Trầm cảm (các câu 3, 5, 10, 13, 16, 17, 21), Lo âu (các câu 2, 4, 7, 9, 15, 19, 20) và Stress (các câu 1, 6, 8, 11, 12, 14, 18). Mỗi câu được chấm từ 0 điểm ("không đúng chút nào") đến 3 điểm ("hoàn toàn đúng"). Tổng điểm mỗi phân nhóm được nhân đôi để đối chiếu với thang chuẩn: Trầm cảm phân độ từ bình thường ($0-9$) đến rất nặng ($\ge 28$); Lo âu từ bình thường ($0-7$) đến rất nặng ($\ge 20$); Stress từ bình thường ($0-14$) đến rất nặng ($\ge 34$).

Tỷ lệ mắc trầm cảm, lo âu và stress cụ thể của 54 nhân viên y tế trong nghiên cứu là bao nhiêu?

Kết quả khảo sát trên 54 nhân viên y tế ghi nhận:

  • Trầm cảm chiếm 22.3% (nhẹ 16.7%, vừa 3.7%, rất nặng 1.9%).
  • Lo âu chiếm 48.1% (nhẹ 11.1%, vừa 24.1%, nặng 2.6%, rất nặng 7.4%).
  • Stress chiếm 22.2% (nhẹ 16.7%, nặng 1.9%, rất nặng 7.4% / 7.7%).

Những yếu tố nào có mối liên quan mang ý nghĩa thống kê với tình trạng rối loạn tâm thần của đối tượng?

Trong toàn bộ các biến số nghiên cứu, chỉ có 2 yếu tố công việc liên quan có ý nghĩa thống kê ($p < 0.05$) với tình trạng lo âu:

  1. Giấc ngủ: Nhóm ngủ đủ giấc có nguy cơ lo âu thấp hơn nhóm ngủ không đủ/mất ngủ ($\text{POR} = 0.264$; 95% KTC: 0.073 – 0.957).
  2. Nỗi sợ nhiễm bệnh: Nhóm sợ bị nhiễm SARS-CoV-2 có nguy cơ lo âu cao gấp 4.125 lần nhóm không sợ. Các yếu tố tuổi, giới tính, hôn nhân, thâm niên chống dịch và số giờ làm việc đều có $p > 0.05$.

Cơ cấu nhân khẩu học và công việc của đối tượng khảo sát có đặc điểm gì nổi bật?

Mẫu nghiên cứu gồm 54 nhân viên y tế với phần lớn là người trẻ tuổi dưới 30 tuổi (59.3%), nữ giới chiếm ưu thế (63.0%), phần lớn chưa lập gia đình (63.0%), 92.6% là dân tộc Kinh và 98.1% không theo tôn giáo. Về chuyên môn, bác sĩ chiếm 37.0%, điều dưỡng chiếm 33.3%, sinh viên tình nguyện chiếm 25.9% và kỹ thuật viên chiếm 3.7%. Đáng chú ý, có 50.0% nhân viên phải làm việc trên 8 giờ/ngày, 55.6% gặp tình trạng thiếu ngủ hoặc mất ngủ, và 70.4% thường trực nỗi sợ bị lây nhiễm virus.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Minh Công đã phản ánh chân thực thực trạng sức khỏe tâm thần của nhân viên y tế tại Bệnh viện dã chiến khu ký túc xá Cao đẳng Cộng đồng tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn phòng chống dịch COVID-19 với tỷ lệ lo âu lên tới 48.1%, trầm cảm 22.3% và stress 22.2%. Nghiên cứu đã chứng minh thực nghiệm rằng tình trạng thiếu ngủ và tâm lý lo sợ phơi nhiễm SARS-CoV-2 là hai yếu tố nguy cơ chính làm gia tăng mức độ lo âu ở lực lượng tuyến đầu. Mặc dù còn hạn chế về thiết kế cắt ngang và cỡ mẫu, công trình mang lại giá trị tham khảo học thuật xác đáng cho chuyên ngành dịch tễ học tâm thần và công tác quản trị nhân lực y tế trong các cuộc khủng hoảng y tế công cộng.