Chương 1: TỔNG QUAN 1. Đại cương về trầm cảm, lo âu và stress 1. Khái niệm Trầm cảm là 1 trạng thái bệnh lý của cảm xúc, biểu hiện bằng quá trình ức chế toàn bộ các hoạt động tâm thần: chủ yếu ức chế cảm xúc, cức chế tư duy, ức chế vận động. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10, trầm cảm điển hình thường được biểu hiện bằng khí sắc trầm, mất mọi quan tâm hay thích thú, giảm năng lượng dẫn tới tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, các triệu chứng tồn tại trong khoảng thời gian ít nhất 2 tuần.
Ngoài ra, còn có thể có các triệu chứng khác như giảm sự tập trung chú ý, giảm tính tự trọng và long tự tin, ý tưởng bị tội và không xức đáng, nhìn vào tương lai ảm đạm bi quan, ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, ăn ít ngon miệng… [4] 1. Bệnh nguyên Trầm cảm do nhiều nguyên nhân gây ra, nhưng có ba nhóm nguyên nhân chính: -Nguyên nhân nội sinh: nguyên nhân chưa rõ ràng có thể do di truyền, miễn dịch, biến đổi chuyển hóa, cấu tạo thể chất…; -Do căn nguyên tâm lý: do các sang chấn tâm lý như mâu thuần gia đình, bạn bè, công việc, các quan hệ xã hội. Hoặc do bị bệnh nặng, nan y (ung thư, HIV/AIDS…). -Do căn nguyên thực tổn: các bệnh tại não như chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não, u não, động kinh, parkinson…; các bệnh cơ thể mạn tính như luput, tiểu đường, tim mạch…; do sử dụng chất rượu, ma túy.
Sinh bệnh học Các amin sinh học: có bằng chứng cho thấy các đơn aicid amin vận chuyển đều tham gia vào quá trình bệnh lý của trầm cảm: Norepinephrine: sự giảm độ tập trung hoặc tính nhạy cảm của các receptor β- adrenergic dẫn đến giảm giải phóng norepinephrine ở các receptor trước synap. Điều này thể hiện hiện vai trò của noradrenergic trong rối loạn trầm cảm. 3 Serotonin: là một trong các chất dẫn truyền chính liên quan đến rối loạn trầm cảm liên quan trực tiếp đến sự giảm nồng độ serotonin (5- HT) ở khe synap. Dopamin: các giả thuyết gần đây cho rằng nguyên nhân làm mất chức năng chuyển hóa dopamin hoặc thụ thể dopamin D1 có thể gây giảm hoạt động trong trầm cảm.
Các chất nội tiết chuyển hóa: rối loạn trục dưới đồi- tuyến yên- tuyến thượng thận gây bất thường các hormon là một trong nguyên nhân gây trầm cảm. Triệu chứng lâm sàng của trầm cảm - Ba triệu chứng chính + Khí sắc trầm: Khí sắc thay đổi ít từ ngày này sang ngày khác và thường không tương xứng với hoàn cảnh, được duy trì trong ít nhất hai tuần. trong một số trường hợp, lo âu, buồn phiền, kích động có thể nổi bật. sự thay đổi cảm xúc có thể bị che lấp bởi sự cau có lạm dụng rượu, tác phong kịch tính và các triệu chứng ám ảnh sợ khác + Mất mọi quan tâm thích thú trong các hoạt động + Giảm năng lượng và tang sự mệt mỏi - Bảy triệu chứng phổ biến + Giảm sự tập trung chu ý + Giảm tính tự trọng và long tự tin, khó khăn trong việc quyết định + Ý tưởng bị tội và không sứng đáng + Nhìn vào tương lai ảm đạm bi quan + Ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát + Rối loạn giấc ngủ + Thay đổi cảm giác ngon miệng với sự thay đổi trọng lượng cơ thể tương ứng - Các triệu chứng cơ thể của trầm cảm + Mất những quan tâm thích thú trong hoạt động thường ngày gây thích thú + Mất những phản ứng cảm xúc với những sự kiện và môi trường xung quanh thường làm vui thích + Buổi sáng thức giấc sớm hơn 2 giờ so với ngày thường 4 + Trạng thái trầm nặng hơn vào buổi sáng + Có bằng chứng khách quan về sự chậm chạp tâm thân vận động hoặc kích động được người khác nhận thấy hoặc kể lại + Giảm cảm giác ngon miệng + Sút cân + Mất hoặc giảm hung phấn tình dục rõ rệt[4,5] 1.
Chẩn đoán trầm cảm - Chẩn đoán xác định + Lần đầu tiên xuất hiện các triệu chứng lâm sàng + Giai đoạn trầm cảm kéo dài ít nhất 2 tuần + Không có đủ các triệu chứng đáp ứng các tiêu chuẩn của gia đoạn hưng cảm ở bất kì thời điểm nào trong đời + Giai đoạn này không gắn với việc sử dụng chất tác động tâm thần hoăc bất cứ rối loạn thực tổn nào - Chẩn đoán các thể lâm sàng + Giai đoạn trầm cảm nhẹ Ít nhất có 2 trong 3 triệu chứng chính Kèm theo ít nhất 2 trong số 7 triệu chứng phổ biến khác Bệnh nhân giai đoạn trầm cảm nhẹ thường buồn chán với các triệu chứng đó, khó tiếp tục công việc thường ngày và hoạt động xã hội nhưng có khả năng không dừng hoạt động hoàn toàn. + Giai đoạn trầm cảm vừa Có ít nhất 2 trong 3 triệu chứng chính Cộng them ít nhất 3 trong số 7 triệu chứng phổ biến khác Bệnh nhân giai đoạn trầm cảm vừa thường có nhiều khó khăn để tiếp tục hoạt động xã hội, nghề nghiệp hoặc công việc gia đình + Giai đoạn trầm cảm nặng, không có các triệu chứng loạn thần Có tất cả 3 triệu chứng chính Kèm theo ít nhất 4 trong 7 triệu chứng phổ biến khác và một số phải đặc biệt nặng Người bệnh ít khả năng tiếp tục công việc xã hội, nghề nghiệp hoặc công việc gia đình, trừ khi ở phạm vi rất hạn chế 5 + Giai đoạn trầm cảm nặng kèm theo các triệu chứng loạn thần 1 giai đoạn trầm cảm nặng thỏa mãn các tiêu chuẩn đã nêu ra trong giai đoạn trầm cảm nặng, không có các triệu chứng loạn thần Kèm theo trong đó có các hoang tưởng, ảo giác hoặc sững sờ trầm cảm + Các giai đoạn trầm cảm khác[4,5] 1. Khái niệm lo âu Lo âu là hiện tượng phản ứng của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa tự nhiêm xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua và tồn tại. Lo lâu là một tín hiệu báo động, báo trước một nguy hiểm sắp xảy đến, cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với sự đe dọa Khi lo âu quá mức hoặc dai dẳng không tương xứng với sự đe dọa được cảm thấy, ảnh hưởng đến hoạt động của người bệnh, có thể kèm theo nhứng ý nghĩ hay hành động có vẻ như quá mức hay vô lý thì lo âu trở thành bệnh lý [4] 1.
Những Dấu hiệu của lo âu Triệu chứng nhận thức: Sợ mất kiểm soát, sợ tổn thương cơ thể hoặc tử vong, sợ bị phát điên, sợ bị người khác đánh giá xấu, có những suy nghĩ về hình ảnh hay kí ức đáng sợ, có nhận thức không thực tế hoặc không liên quan, kém tậm trung, hay nhầm lẫn, giảm sự chú ý, khó để nói Triệu chứng sinh lý: Tăng nhịp tim, hồi hộp trống ngực, khó thở, thở nhanh, đau ngực hoặc nặng ngực, cảm giác bóp nghẹn, chóng mặt, đổ mồ hôi, bốc hỏa, ớn lạnh, buồn nôn, đau bụng, rối loạn tiêu hóa, run rẩy, dị cảm, tê bì tay chân, cảm thấy mất sức lực, căng mỏi cơ, khô miệng Triệu chứng hành vi: tránh các tình huống đe dọa, theo đuổi sự an toàn, bồn chồn kích động, thở gấp, ít vận động, khó để nói Triệu chứng cảm xúc: lo lắng, sợ hãi, bồn chồn, thiếu kiên nhẫn, hay tức giận. Khái niệm stress Stress là một trong những vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong lĩnh vực tâm thần học. 6 Stress được chỉ như là nguyên nhân gây bệnh, nhưng đôi khi nó lại là hậu quả cảu tác nhân công kích đối với các cá thể chịu stress Thuật ngữ stress được xuất hiện lần đầu từ thế kỉ 15. Ban đầu được dùng trong vật lý học để chỉ sức nén mà vật liệu phải chịu.
Đến thế kỉ thứ 17 thuật ngữ này được dùng chỉ sức ép trên tâm lý con người khi con người phải trải qua thử thách gay go, tai họa hoặc nỗi đau buồn. Sau đó năm 1914, Walter Cannon sử dụng thuật ngữ stress trong sinh lý học. Tới năm 1935, trong một công trình nghiên cứu về duy trì cân bằng nội môi ở các độg vật có vú trong các tình huống bị gò bó, ông đã mô tả stress là một phản ứng sinh lý tấn công hoặc bỏ chạy trước hoàn cảnh khẩn cấp có liên quan đến tang tiết Adrenaline của tủy thượng thận Từ Hàng loạt các kích thích cấp tính trên súc vật, Hans Sylye (1936) đã nhận thấy các đáp ứng không đặc hiệu mà ông gọi là hội chứng thích nghi với ba giai đoạn có liên quan đến tang bài tiết Glucocorticoid ở vỏ thượng thận. Stress tâm lý trong tâm thần học với ý nghĩa sang chấn tâm thần đó là tất các những sự việc, những hoàn cảnh trong các điều kiện sinh hoạt xã hội, trong mối liên quan phức tạp giữa người với người, tác động vào tâm thần gây ra những cảm xúc mạnh, phần lớn là tiêu cực: sợ hãi, lo lắng, buồn dầu, tức giận, ghen tuông, thất vọng … [7] 1.
Cơ chế gây bệnh của stress Hàng ngày hàng giờ mỗi cá nhân trong xã hội phải chịu tác động của nhiều loại stress. Ví dụ: điều kiện sống khó khăn, làm việc quá tải và căng thẳng, thất vọng trong sự nghiệp, mâu thuẫn trong gia đình, vợ chồng con cái, mâu thuẫn với hàng xóm, đồng nghiệp… Tuy nhiên stress gây bệnh hay không phụ thuộc vào nhiều nhân tố phức tạp. Có hai nhân tố chính là đặc điểm gây bệnh của stress và sức chống đỡ của nhân cách. - Đặc điểm gây bệnh của stress Stress gây bệnh thường là những stress mạnh và cấp diễn (người thân chết đột ngột, tổn thất về kinh tế nặng nề, thảm họa do chiến tranh…).
Có những stress tuy không mạnh và cấp diễn nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần gây căng thằng nội tâm cũng có khả năng gây bệnh. 7 Thành phần gây bệnh của stress là ý nghĩa thông tin chứ không phải là cường độ của stress (như ý nghĩa gây bệnh của đám cháy không phải là cường độ ngọn lửa mà là giá trị của tài sản bị thiêu hủy cụ thể đối với mỗi cá nhân). Những stress gây xung đột nội tâm làm cho cá nhân không tìm được lối thoát cũng thường gây bệnh (mâu thuẫn vợ chồng nhưng không thể giải thoát cho nhau được vì còn nghĩa vụ với con cái…). Stress tác động vào cá nhân thường gây bệnh nhiều hơn stress đập vào một cộng đồng (cơ chế chia sẻ gánh nặng, nỗi buồn).
- Vai trò của nhân cách Nếu đối tượng nhận thức tình huống stress không nguy hiểm và có thể chống đỡ được thì sẽ có một phản ứng thich hợp bình thường.