Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các định nghĩa, khái niệm 1. Định nghĩa, khái niệm liên quan COVID-19 Nhân viên y tế (NVYT) là toàn bộ số lao động (kể cả công và tư, kể cả biên chế và hợp đồng) hiện đang công tác trong các cơ sở y tế (ở trong khuôn khổ nghiên cứu này là các bệnh viện, khu cách ly…) tại thời điểm báo cáo. Bệnh COVID-19 là một bệnh truyền nhiễm bởi virut SARS-CoV-2.
Ca bệnh COVID-19 là người có kết quả xét nghiệm dương tính với vi rút SARS-CoV-2 bằng phương pháp phát hiện vật liệu di truyền của vi rút (Realtime RT-PCR); hoặc là người có triệu chứng lâm sàng (Sốt, ho, viêm đường hô hấp cấp tính nặng, viêm phổi nặng nghi do vi rút hoặc đồng thời mắc nhiều triệu chứng đau người, mệt mỏi, ớn lạnh; đau, nhức đầu; đau họng; chảy nước mũi…) / có yếu tố dịch tễ và có kết quả xét nghiệm kháng nguyên dương tính với vi rút SARS-CoV-2 (13, 14). Khu cách ly là các khu vực dành cho những người mắc bệnh COVID-19 hoặc những người có thể đã phơi nhiễm với. COVID-19 nhưng chưa phát bệnh. Các khu cách ly phải đảm bảo theo các quy định của Bộ Y tế về phòng, chống dịch COVID- 19.
Định nghĩa, thang đo căng thẳng Căng thẳng được Hans Selye định nghĩa theo thuật ngữ chung là một hội chứng bao gồm những đáp ứng không đặc hiệu của cơ thể với kích thích từ môi trường. Căng thẳng có thể bao gồm bất kỳ những thay đổi quá mức về thể chất, tâm lý, hoặc tâm lý (15). Thang đo trầm cảm, lo âu, căng thẳng DASS 21 : là một bộ 3 thang điểm do các trạng thái cảm xúc trầm cảm, lo âu và căng thẳng. Mỗi thang đo trạng thái trong thang đo DASS-21 chứa 7 mục.
Thang điểm trầm cảm đánh giá sự phiền muộn, tuyệt vọng, mất giá trị cuộc sống, sự tự ti, thiếu quan tâm, triệu chứng loạn trương lực cơ và quán tính. Thang điểm lo lắng đánh giá sự kích thích tự chủ, ảnh hưởng đến cơ xương, tình huống lo lắng, và trải nghiệm chủ quan về ảnh hưởng lo lắng 5 Thang điểm căng thẳng nhạy cảm với mức độ kích thích mãn tính không đặc hiệu. Nó đánh giá mức độ khó thư giãn, kích thích thần kinh và dễ buồn / kích động, cáu kỉnh, phản ứng quá mức và thiếu kiên nhẫn. Điểm số cho chứng trầm cảm, lo lắng và căng thẳng được tính bằng tổng điểm cho các mục có liên quan (16).
Thang đo DASS 21 đã được chuyển ngữ và kiểm định là đáng tin cậy tại Việt Nam trên các đối tượng vị thành niên và phụ nữ (17, 18), và đã được sử dụng để báo cáo tình trạng căng thẳng của NVYT làm nhiệm vụ trong các hoạt động điều trị, cách ly, dự phòng… COVID-19 tại Việt Nam (19) (7, 8). Điều tiết cảm xúc ( Emotional flexibility): được định nghĩa là khả năng điều chỉnh linh hoạt cảm xúc theo cách phù hợp với ngữ cảnh và phục hồi cảm xúc từ phản ứng cảm xúc ban đầu khi bối cảnh thay đổi, do đó tạo ra sự phù hợp tốt nhất có thể với môi trường luôn thay đổi (20) Thang đo khả năng điều tiết cảm xúc FREE 16: là thang điểm gốm 16 mục đo lường khả năng của con người trong việc tăng cường những cảm xúc tích cực và kiềm chế tiêu cực trong các tình huống khác nhau. Thang đo bao gồm hai nhóm yếu tố chính: Khả năng bộc lộ và kìm nén cảm xúc. Mỗi mục được đánh giá bằng thang Likert 6 điểm, bắt đầu từ 1 tới 6 tùy theo khả năng bộc lộ hoặc kìm nén cảm xúc của người được đánh giá.
Burton và Bonanno đã phát triển thang FREE 16 như một thước đo logic và đáng tin cậy về tính linh hoạt trong điều chỉnh cảm xúc. Trong thời gian gần đây nhiều nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng thang FREE 16 trong các đánh giá tâm lý trong lâm sàng và cả cộng đồng đều cho các kết quả tốt trong những mô hình đánh giá tâm lý (21). Một số nghiên cứu trên thế giới cũng đã áp dụng thang đo FREE 16 trên các đối tượng là NVYT với độ tin cậy cao. Nghiên cứu của Lenzo V.
Tác giả này cũng đã áp dụng thang đo FREE 16 trong nghiên cứu về các NVYT thực hiện công tác phòng chống COVID-19 tại Ý năm 2021. Kết 6 quả cho thấy thang đo FREE 16 đóng góp vai trò quan trọng trong theo dõi sự thay đổi cảm xúc của các NVYT (23). Thực trạng căng thẳng của nhân viên y tế thực hiện nhiệm vụ liên quan đến các ca nhiễm bệnh COVID-19 trên thế giới và tại Việt Nam COVID-19 đã khiến nhân viên y tế (NVYT) và gia đình của họ phải đối mặt với mức độ rủi ro chưa từng có. Mặc dù không mang tính đại diện, dữ liệu từ nhiều quốc gia trên khắp các khu vực của WHO chỉ ra rằng tỷ lệ mắc COVID-19 trong NVYT lớn hơn nhiều so với tỷ lệ ca nhiễm trong dân số nói chung (11).
Trong khi NVYT đại diện cho dưới 3% dân số các quốc gia phát triển và dưới 2% ở hầu hết các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, khoảng 14% các trường hợp COVID-19 được báo cáo cho WHO là trong số các NVYT. Ở một số quốc gia, tỷ lệ này có thể lên tới 35%. Tuy nhiên, tính sẵn có và chất lượng dữ liệu còn hạn chế, và không thể xác định liệu NVYT có bị nhiễm bệnh tại nơi làm việc hay trong môi trường cộng đồng hay không. Hàng nghìn NVYT bị mắc COVID-19 đã mất mạng trên toàn thế giới (11).
Bên cạnh những rủi ro về thể chất, đại dịch còn tạo ra mức độ căng thẳng tâm lý đặc biệt đối với các NVYT tiếp xúc với những môi trường có nhu cầu cao trong nhiều giờ, luôn phải sống trong nỗi sợ hãi về việc tiếp xúc với bệnh tật trong khi bị tách biệt khỏi gia đình và đối mặt với sự kỳ thị của xã hội. Trước khi COVID-19 tấn công, các chuyên gia y tế đã có nguy cơ tự tử cao hơn ở tất cả các nơi trên thế giới. Một đánh giá gần đây của các chuyên gia chăm sóc sức khỏe cho thấy một trong bốn báo cáo trầm cảm và lo lắng, và một trong ba người bị mất ngủ trong COVID-19 (12). WHO gần đây đã nhấn mạnh sự gia tăng đáng báo động trong các báo cáo về quấy rối bằng lời nói, phân biệt đối xử và bạo lực thể chất giữa các nhân viên y tế sau sự bùng phát của COVID-19 (11).
Thực trạng căng thẳng của nhân viên y tế thực hiện nhiệm vụ liên quan đến các ca nhiễm bệnh COVID-19 trên thế giới Đại dịch COVID-19 đã gây ra gánh nặng tâm lý to lớn cho người dân, đặc biệt là các bác sĩ và y tá phải đối mặt với nguy cơ lây nhiễm cao và khối lượng công việc gia tăng. Họ phải gánh chịu nhiều ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe tinh thần, nguy 7 cơ lây nhiễm cao khi là những người đang đứng ở tuyến đầu của cuộc khủng hoảng này. Cách ly hàng loạt có thể gây ra cảm giác căng thẳng, sợ hãi và lo lắng ở NVYT làm việc trong bệnh viện cũng như các đơn vị cách ly (24). Đại dịch COVID-19 đã gây ra các vấn đề về tâm lý, chẳng hạn như lo lắng, sợ hãi, các cơn hoảng loạn, các dấu hiệu căng thẳng sau sang chấn, đau khổ tâm lý, kỳ thị, tránh tiếp xúc, khuynh hướng trầm cảm, rối loạn giấc ngủ, bất lực, giao tiếp cá nhân và cô lập với hỗ trợ của gia đình và xã hội, cũng như lo lắng về việc bạn bè và gia đình của họ có thể bị lây nhiễm bệnh (25).
Mặc dù các vấn đề sức khỏe tâm thần và các vấn đề tâm lý xã hội là phổ biến ở các NVYT, hầu hết các chuyên gia y tế không thường xuyên tìm kiếm hoặc nhận được sự chăm sóc sức khỏe tâm thần thường xuyên (12). Ngoài ra, các vấn đề sức khỏe tâm thần của NVYT sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự chú ý, chức năng nhận thức và ra quyết định lâm sàng của họ, dẫn đến việc gia tăng tỷ lệ sai sót và sự cố y khoa, và do đó khiến bệnh nhân gặp rủi ro (26), (27). Do đó, các vấn đề sức khỏe tâm thần của NVYT trong đại dịch COVID-19 đã trở thành mối quan tâm cấp bách về sức khỏe cộng đồng. Năm 2019, tỉnh Vũ Hán, Trung Quốc là nơi báo cáo ca bệnh COVID-19 đầu tiên, sau đó đã lây nhiễm ra toàn Trung Quốc và quốc tế.
Vào ngày 30 tháng 1 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới đã tổ chức một cuộc họp khẩn cấp và tuyên bố sự bùng phát COVID-19 toàn cầu là tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng được quốc tế quan tâm (28). Trước tình hình nguy cấp này, các nhân viên y tế tuyến đầu, những người trực tiếp tham gia chẩn đoán, điều trị và chăm sóc bệnh nhân COVID-19 có nguy cơ phát triển tâm lý và các triệu chứng sức khỏe tâm thần khác. Nghiên cứu đánh giá kết quả sức khỏe tâm thần giữa các nhân viên chăm sóc sức khỏe điều trị bệnh nhân COVID-19 bằng cách định lượng mức độ của các triệu chứng trầm cảm, lo âu, mất ngủ. Những người tham gia từ thành phố Vũ Hán (thủ phủ của tỉnh Hồ Bắc) và các khu vực khác trong và ngoài tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc đã được ghi danh vào cuộc khảo sát này để so sánh sự khác biệt giữa các vùng.
Trong số 1257 NVYT làm việc tại Vũ Hán, 764 (60,8%) là y tá, và 493 (39,2%) là bác sĩ; 760 (60,5%) làm việc tại các bệnh viện ở Vũ Hán và 522 (41,5%) là nhân viên y tế tuyến đầu. Một tỷ 8 lệ đáng kể những người tham gia báo cáo có các dấu hiệu căng thẳng với 899 đối tượng (71,5%). Hầu hết trong số này, họ đã báo cáo mức độ nghiêm trọng hơn về triệu chứng sức khỏe tâm thần của nữ điều dưỡng, nhân viên chăm sóc sức khỏe tuyến đầu so với các nhân viên chăm sóc sức khỏe khác t ại Vũ Hán, Trung Quốc (29). Tại Ý, dịch bênh COVID-19 để lại ảnh hưởng nặng nề và các NVYT phải chịu dánh nặng quá lớn.
Trong thời gian đóng cửa, Dịch vụ Y tế Quốc gia Ý đã bị ảnh hưởng nặng nề khi các nhân viên y tế phải đối mặt với gánh nặng quá lớn, đầu năm 2021, đã có 198 NVYT tử vong và 95451 NVYT nhiễm bệnh. Ngoài ra, NVYT hỗ trợ bệnh nhân bị mắc COVID-19 có thể phải đối mặt với căng thẳng hơn nữa do sự kỳ thị (30).