Chương 1: Giới thiệu – Chương 2: Cơ sở lý luận – Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – Chương 4: Kết quả. – Chương 5: Bàn luận – Chương 6 : Kết luận và hàm ý chính sách – Phụ lục. – Tài liệu tham khảo. Chương 2: Cơ Sở Lý Luận 2.
Lược khảo lý thuyết : 2. Khái niệm căng thẳng : Theo tiếng Latinh, stress được bắt nguồn từ “strictus” và một phần của từ “stringere” có nghĩa là căng thẳng, nghịch cảnh, bất hạnh, đè nén. Stress cũng là một phần của từ “destresse” và “estresse” trong tiếng Pháp cổ, có nghĩa là chật hẹp, sự đàn áp. Trong tiếng Anh, “stress” có nghĩa là nhấn mạnh (press).
Trong vật lý học, stress là sự sức nén mà vật liệu phải chịu. Walter Cannon (1927) là người đầu tiên đưa ra khái niệm về stress. Định nghĩa của Walter Cannon tập trung nhiều vào khía cạnh sinh học của stress. Stress được hiểu đơn thuần là phản ứng “cài đặt sẵn” của cơ thể trước những nhân tố gây hại nhằm huy động sức mạnh của cơ thể để ứng phó (http://tamlitrilieu.
Stress là gì ? Nguyễn Minh Tiến, 2015). Khái niệm “cài đặt sẵn” của Cannon gợi ý rằng chúng ta có thể dựa vào những biểu hiện của cơ thể để nhận ra mình đang trong tình trạng stress hay không vì những phản ứng của cơ thể này là có xu hướng lặp lại nên có thể dự đoán được đối với mỗi cá nhân. Nhà tâm lý học Mc Grath lại coi “stress như một sự mất thăng bằng giữa đòi hỏi và khả năng đáp ứng. Khi đáp ứng không thỏa đáng sẽ có hậu quả không tốt”.
(Nguyễn Ý Đức, 2003) Một tác giả khác, Richard Lazarus, cho “stress là một diễn tả chủ quan từ tâm trí, nên nó xuất hiện tùy theo cách nhìn của con người với sự việc”. Những tình huống chán chường kéo dài hoặc không được thăng tiến lại thường được xem là có thể gây stress (Lazarus, Folkman, 1984). Dictionary of Psychology của Andrew M. Colman, Oxford (2003) định nghĩa: “stress là căng thẳng thể lý và tâm lý phát sinh do những tình huống, sự kiện, trải nghiệm, khó có thể chịu đựng được hoặc vượt qua, như những biến cố nghề nghiệp, kinh tế, xã hội, cảm xúc hoặc thể lý”.
Từ điển Y học Anh-Việt (2007) Nhà xuất bản khoa học xác định: “Bất kỳ nhân tố nào đe dọa đến sức khoẻ cơ thể hay có tác động phương hại đến các chức năng cơ thể, như tổn thương, bệnh tật hay tâm trạng lo thì đều gọi là stress”. Bác sỹ Eric Albert, nhà tâm lý học, sáng lập viên Viện nghiên cứu stress định nghĩa: “Stress là sự nỗ lực của cơ thể để thích nghi với những đổi thay” (Trịnh Tất Thắng, 2012) Nhà sinh vật học Canada, Hans Selye, cho rằng stress là phản ứng của cơ thể trước mỗi tấn công của môi sinh. Về sau, ông đã đưa ra nhiều cách giải thích khác, phổ biến nhất là định nghĩa: “stress là một trạng thái được thể hiện trong một hội chứng bao gồm tất cả các biến cố không đặc hiệu trong một hệ thống sinh học”. Năm 1936, ông đưa ra định nghĩa “stress là trạng thái căng thẳng tâm lý do thực hiện những hoạt động trong những điều kiện đặc biệt phức tạp và xuất hiện như là sự trả lời đối với các kích thích quá mức – tác nhân gây stress”.
Cuối đời (1975), ông nhấn mạnh: stress có tính chất tổng hợp, chứ không phải chỉ thể hiện trong một trạng thái bệnh lý, đó là “mọi đáp ứng của cơ thể trước mọi yêu cầu hay đòi hỏi tác động lên trên cơ thể…”. Stress nghề nghiệp được định nghĩa là sự mất cân bằng giữa yêu cầu và khả năng lao động (Trịnh Tất Thắng,2012) Vào thập niên 80 của thế kỷ XX, tác giả Xô viết L.Kitaepxmưx nhìn nhận: “Stress là những nét không đặc hiệu của những biểu hiện sinh lý và tâm lý của cơ thể, nảy sinh trong mọi phản ứng của cơ thể”. Theo ông, tính không đặc hiệu của các quá trình thích nghi tâm lý và sinh lý thể hiện - cả tiêu cực lẫn tích cực - khi gặp các tác động khác nhau về cường độ, trường độ và tầm quan trọng của nó đối với chủ thể (Judith Lazaus,2001) Đa số nhà nghiên cứu stress ở Việt Nam sử dụng những khái niệm của các nhà nghiên cứu nước ngoài. Tuy nhiên cũng có một vài tác giả có ý kiến riêng của mình.
Tác giả Tô Như Khuê cho rằng : “stress chính là những phản ứng không đặc hiệu xảy ra một cách chung khắp, do các yếu tố có hại về tâm lý xuất hiện trong các tình thế mà con ngưòi chủ quan thấy là bất lợi hoặc rủi ro, ở đây vai trò quyết định không chủ yếu do các tác nhân kích thích, mà do sự đánh giá chủ quan về tác nhân đó”. Định nghĩa này đề cập đến vai trò của yếu tố nhận thức và thái độ của con người trong stress (Nguyễn Ý Đức, 2003) Trong khi đó, Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thuỷ và Lê Khanh đã nêu lên thành phần quan trọng của stress là xúc cảm và một số nguyên nhân cơ bản gây ra stress ở con người, khi cho rằng: “stress là những xúc cảm nảy sinh trong những tình huống nguy hiểm, hẫng hụt, hay trong những tình huống phải chịu đựng những nặng nhọc về thể chất và tinh thần hoặc trong những điều kiện phải quyết định hành động nhanh chóng và trọng yếu” (http://tamlitrilieu. Stress là gì ? Nguyễn Minh Tiến, 2015) Theo Nguyễn Thành Khải, “Dưới góc độ tâm lý học, có thể hiểu stress là trạng thái căng thẳng về tâm lý mà con người cảm nhận được trong quá trình hoạt động cũng như trong cuộc sống”. Có ý kiến còn cho rằng: stress là kết quả tương tác giữa khả năng đáp ứng của một số cá nhân và những đòi hỏi được đặt ra cho cá nhân đó trong môi trường của họ.
Quá trình tương tác có thể dẫn đến những hậu quả nhiều mặt tuỳ theo khả năng ứng phó đó. Tóm lại, hiện nay có nhiều cách hiểu về căng thẳng. Có người nói đến căng thẳng như một nguyên nhân, có người nói đến như hậu quả. Có người nhìn nhận thuần túy dưới góc độ sinh học, như là phản ứng mang tính sinh lý của cơ thể; số khác, thường là của các nhà tâm lý, đề cập đến cả yếu tố sinh học và tâm lý.
Trong phạm vi nghiên cứu của mình, dưới góc độ tâm lý học chúng tôi hiểu: Stress là trạng thái căng thẳng về tâm lý xuất hiện ở con người trong quá trình hoạt động của đời sống thường ngày. Trong đó một phần là do sự tác động của những điều kiện khó khăn, phức tạp từ bên ngoài cũng như từ trong chính bản thân gây ra, một phần là do cách mà họ cảm nhận và giải thích những sự tác động đó, tùy thuộc vào khả năng “xử lý” của bản thân có thể ảnh hưởng đến con người trên các mặt sinh lý, tâm lý và xã hội. Khái niệm nhân viên y tế và căng thẳng nhân viên y tế : 2. Khái niệm nhân viên y tế Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới thì “Nhân viên y tế là những người tham gia vào hành động có mục đích chính là để tăng cường sức khỏe.
Chúng bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế như bác sĩ, y tá, nữ hộ sinh, dược sĩ, kỹ thuật viên phòng thí nghiệm - cũng như quản lý và công nhân hỗ trợ - chẳng hạn như quản lý bệnh viện, các quan chức tài chính, đầu bếp, bảo trì sửa chữa và nhân viên vệ sinh” (http://www.int/mediacentre/factsheets/fs301/en/index.html) Một định nghĩa khác đối với người lao động chăm sóc sức khoẻ là: Lâm sàng và các nhân viên khác, bao gồm cả những người trong chăm sóc ban đầu, những người có tiếp xúc thường xuyên, lâm sàng với bệnh nhân. Điều này bao gồm nhân viên như bác sĩ, nha sĩ và y tá, các chuyên gia y tế chẳng hạn như trị liệu nghề nghiệp, vật lý trị liệu, công nhân xe cứu thương và khuân vác, và sinh viên trong những nguyên tắc này (http://www.org/) Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới năm 2006 thì nhân viên y tế là "tất cả mọi người tham gia vào hành động có mục đích chính là để tăng cường sức khỏe" (Báo cáo Y tế Thế giới 2006) (John W. Hinton and Richard F. Burton,1992) Trong giới hạn nghiên cứu của mình chúng tôi hiểu “Nhân viên y tế là tất cả những người hoạt động trong lĩnh vực y tế, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân” 2.
Căng thẳng của nhân viên y tế : Từ khái niệm về căng thẳng và khái niệm nhân viên y tế nêu trên, trong phạm vi nghiên cứu của mình chúng tôi định nghĩa căng thẳng của nhân viên y tế như sau: Căng thẳng của nhân viên y tế là trạng thái căng thẳng về tâm lý xuất hiện ở người nhân viên y tế trong quá trình hoạt động trong lĩnh vực y tế cũng như trong đời sống thường ngày. Trong đó một phần là do sự tác động của những điều kiện khó khăn, phức tạp từ hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân hoặc từ trong chính bản thân của mỗi người gây ra, một phần là do cách mà họ cảm nhận và giải thích những sự tác động đó, tùy thuộc vào khả năng “xử lý” của bản thân có thể ảnh hưởng đến nhân viên y tế trên các mặt sinh lý, tâm lý và xã hội. Những nguyên nhân gây căng thẳng nói chung và nguyên nhân gây căng thẳng đối với nhân viên y tế : 2. Những nguyên nhân gây căng thẳng nói chung Theo quan điểm hệ thống về căng thẳng, một cá nhân bị căng thẳng là do bản chất của các sự kiện kích thích và do những yếu tố thuộc về cá nhân quyết định mức độ căng thẳng của cá nhân đó vì vậy có hai nhóm nguyên nhân gây căng thẳng là nguyên nhân khách quan (nguyên nhân bên ngoài cá nhân), và nguyên nhân chủ quan (nguyên nhân bên trong) (Vũ Dũng,2000) a.
Nguyên nhân khách quan - bên ngoài : Những nguyên nhân khách quan cụ thể gây căng thẳng bao gồm: * Căng thẳng do môi trường sinh thái Những yếu tố có nguồn gốc sinh thái góp phần gây nên căng thẳng, nó phát sinh từ mối quan hệ giữa môi trường bên ngoài và bên trong cơ thể.