ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), kiệt sức nghề nghiệp (KSNN) là một hội chứng liên quan đến căng thẳng mạn tính tại nơi làm việc không được kiểm soát, gây ra một loạt các triệu chứng (1); còn căng thẳng nghề nghiệp là phản ứng mà mọi người có thể gặp phải khi phải đối mặt với những yêu cầu và áp lực công việc không phù hợp với kiến thức và khả năng của họ (2). Căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp nếu diễn ra quá mức thì sẽ có những tác động tiêu cực (3, 4). Một vài nghiên cứu chỉ ra, stress là một yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh ung thư (5-7), có thể gây ra một số vấn đề sức khỏe tâm thần như trầm cảm, thậm chí tự tử… (3, 4). Còn KSNN đang có xu hướng ngày càng tăng đáng kể, ảnh hưởng đến 19-30% người lao động trên toàn thế giới (8).
Nhân viên hay những người làm trong ngành y tế của toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng, là nhóm đối tượng có nguy cơ mắc căng thẳng và KSNN ngày càng cao bởi sự gia tăng nhu cầu, khối lượng công việc liên quan đến y tế tương đồng với với mục tiêu gia tăng tỷ lệ bao phủ chăm sóc sức khoẻ toàn dân của nước (9). Đặc biệt, từ năm 2019 đến nay, cả hệ thống Y tế trên thế giới đang phải gồng mình lên để chống lại sự lây lan của đại dịch COVID-19, khối lượng công việc và áp lực an toàn thêm vào nhiều không thể kể được. Một số yếu tố gây căng thẳng khác biệt đã tồn tại trong đại dịch COVID-19, có thể liên quan đến tình trạng kiệt sức của các bác sĩ/nhân viên y tế (69). Chính bởi vậy, nếu như không quan tâm đến giải quyết vấn đề này thì nó sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến cung cấp hệ thống nhân lực chất lượng cho lĩnh vực Y tế.
Hiện tại, tình trạng mắc căng thẳng và KSNN ở nhân viên y tế trên thế giới rất đáng báo động. Trong nghiên cứu tổng quan hệ thống trên 4108 nhân viên y tế được thực hiện vào năm 2017 tại một số nước Ả-Rập, tác giả Elbarazi và các cộng sự cho thấy, tỷ lệ các hội chứng KSNN có dao động lớn và ở mức cao: suy kiệt cảm xúc (20,0-81,0%), cảm giá hoài nghi/sai lệnh về bản thân (9,2-80,0%) và thành tích cá nhân suy giảm (13,8-85,8%) (10). Tại nước ta, một số nghiên cứu cũng chỉ ra tỷ lệ căng thẳng và KSNN ở nhân viên y tế ở mức cao. Tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp trong nhân viên y tế dao động từ 44% đến 48% (11, 12).
Các bác sĩ bệnh viện cũng có tỷ lệ kiệt sức ở mức cao với 2 29,7% suy kiệt cảm xúc, 12,2% có cảm giác sai lệch về bản thân (13). Một số nghiên cứu đã chỉ ra, căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp có mối liên quan với nhau. Đồng thời, để đối phó với căng thẳng và kiệt sức, các giải pháp từ ứng phó của cá nhân và tổ chức cần được thực hiện kết hợp, song hành để đạt được hiệu quả nhất. Trung tâm Y tế (TTYT) huyện Đông Anh là đơn vị sự nghiệp tuyến cơ sở hạng III trực thuộc Sở Y tế Hà Nội, có chức năng thực hiện đồng thời công tác khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh và Dân số- Kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn huyện, với tổng nhân sự khoảng 350 cán bộ.
Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2022, đất nước ta đang ở trong nguy cơ “Dịch chồng dịch”, ngoài triển khai toàn bộ các công tác thường quy khác, các cán bộ của TTYT cũng phải song song thực hiện rất nhiều công việc để đẩy lùi dịch bệnh (14). Chính bởi vậy, câu hỏi đặt ra là thực trạng căng thẳng và KSNN của nhân viên y tế như thế nào? Theo đó, các giải pháp gì để giúp giảm, hạn chế tình trạng này cho các cán bộ? Để trả lời các câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp của nhân viên y tế và một số biện pháp ứng phó ở Trung tâm Y tế huyện Đông Anh năm 2022”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp của nhân viên y tế thuộc Trung tâm Y tế huyện Đông Anh, năm 2022.
Phân tích một số biện pháp ứng phó với căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp ở Trung tâm Y tế huyện Đông Anh, năm 2022. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về căng thẳng Căng thẳng (stress) được biết đến ngày càng nhiều trong cuộc sống hiện đại.
Hans Selye, chuyên gia Nội tiết học người gốc Áo-Hungary, là người phát mình và chính thức đưa ra khái niệm stress một cách khoa học là: “triệu chứng stress sinh học” vào năm 1936: Căng thẳng là phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng (15, 16). Đây là những phản ứng nhằm khôi phục lại trạng thái cân bằng nội môi, khắc phục được các tình huống để đảm bảo duy trì và thích nghi thỏa đáng cơ thể trước điều kiện sống luôn biến đổi. Khi mất khả năng thích nghi thì stress có thể phát huy làm cho người đó mắc bệnh (17). Sau công bố của Hans Selye, vào năm 1966, Nhà tâm lý học Richard S.Lazarus đã đưa ra định nghĩa căng thẳng là sự mất cân bằng giữa những yêu cầu và những nguồn lực (18).
Căng thẳng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe nếu cá nhân không đủ đáp ứng/ứng phó được (19). Ngoài ra, WHO đã đưa ra định nghĩa về căng thẳng nghề nghiệp: đó là phản ứng mà mọi người có thể gặp phải khi phải đối mặt với những yêu cầu và áp lực công việc không phù hợp với kiến thức và khả năng của họ, hay hiểu đơn giản là sự mất cân bằng giữa yêu cầu và khả năng lao động (2), (20), (21), (22), (23). Khái niệm kiệt sức nghề nghiệp Kiệt sức nghề nghiệp được định nghĩa là: “một hội chứng liên quan đến căng thẳng mạn tính tại nơi làm việc không được kiểm soát, gây ra một loạt các triệu chứng”. KSNN bao gồm có 03 khía cạnh chính (1): (i) Cảm giác cạn kiệt năng lượng hoặc kiệt sức; (ii) Tăng cảm giác tiêu cực hoặc hoài nghi liên quan đến công việc của con người và (iii) Giảm hiệu quả và thành tích chuyên môn.
Ngoài ra, WHO cũng khuyến cáo, kiệt sức nên được đề cập trong các hiện tượng trong bối cảnh nghề nghiệp và không nên được áp dụng để mô tả trải nghiệm trong các lĩnh vực khác của cuộc sống. Kiệt sức đã được đưa vào ICD-10 (24), cùng loại với ICD-11 nhưng định nghĩa đã được chi tiết hơn. Khái niệm về nhân viên y tế Theo định nghĩa của WHO trong báo cáo vào năm 2006, nhân viên hay nhân viên y tế là tất cả những người tham gia vào các hoạt động có mục đích chính là nâng cao sức khỏe của con người. Ý nghĩa này được mở rộng từ định nghĩa của WHO về hệ thống y tế bao gồm các hoạt động có mục tiêu hàng đầu là cải thiện sức khỏe (25).
Trong thời điểm đại dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp như hiện nay (26), (27) thì nhân viên y tế cũng chính là nguồn nhân lực đặc biệt quan trọng, giúp chăm sóc sức khỏe người dân trong cộng đồng. Một số bộ công cụ, thang đo đo lường căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp 1. Công cụ, thang đo kiệt sức nghề nghiệp Bộ công cụ Copenhagen Burnout Inventory (CBI): Bản đánh giá mức độ kiệt sức của Copenhagen là một trong những công cụ được một số nước sử dụng. CBI bao gồm ba thang đo lường mức độ kiệt sức của cá nhân, mức độ kiệt sức liên quan đến công việc và mức độ kiệt sức liên quan đến khách hàng, để sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau.
Nghiên cứu của Kristensen và các cộng sự (28) về tính hợp lệ và độ tin cậy của CBI cho thấy cả ba thang đo đều có độ tin cậy rất cao và tỷ lệ không phản hồi thấp. Các thang đo có sự phân biệt rõ ràng giữa các nhóm nghề nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ. CBI đang được sử dụng ở một số quốc gia và có sẵn bản dịch sang tám ngôn ngữ. Bộ công cụ Maslach burnout Inventory (MBI): Ở thời điểm hiện tại, được sử dụng phổ biến hơn cả vẫn là bộ công cụ MBI, đây vẫn được coi là “tiêu chuẩn vàng” để đo lường mức độ kiệt sức (29).
Thang đo MBI gồm 22 mục liên quan đến kiệt sức nghề nghiệp. Sau khi MBI được công bố vào năm 1981, các phiên bản mới của MBI dần dần được phát triển để áp dụng cho các nhóm khác nhau và các cơ sở khác nhau (30). MBI đo lường ba khía cạnh của sự kiệt sức: kiệt quệ về cảm xúc, suy giảm tính cách và thành tích cá nhân. Hiện có năm phiên bản của MBI: Khảo sát Dịch vụ Con người (MBI-HSS), Khảo sát Dịch vụ Nhân sinh cho Nhân viên Y tế (MBI-HSS (MP)), Khảo sát Nhà giáo dục (MBI-ES), Khảo sát Chung (MBI-GS) và Khảo sát chung dành cho sinh viên (MBI-GS (S) (31).
6 Tại Việt Nam, năm 2021 một nhóm các nhà khoa học đã tiến hành chuẩn hóa bộ công cụ đo lường tình trạng kiệt sức phiên bản tiếng Việt trên 385 điều dưỡng viên tại ba Bệnh viện đa khoa, Phụ sản và bệnh viện trẻ em Hải Phòng. Bộ công cụ nghiên cứu bao gồm 16 câu chia làm 3 mục: Kiệt sức, hoài nghi và hiệu quả công việc. Bộ công cụ được dịch xuôi và dịch ngược, kiểm tra độ tin cậy và chuẩn hóa về mặt cấu trúc. Kết quả nghiên cứu cho thấy bộ công cụ MBI-GS phiên bản tiếng Việt có các chỉ số chấp nhận được cho sử dụng để đánh giá tình trạng kiệt sức nghề nghiệp trong các nghiên cứu (32).
Do vậy, nghiên cứu của chúng tôi đã sử dụng bộ công cụ MBI để thực hiện đánh giá KSNN của nhân viên y tế, bao gồm 14 câu (sau khi loại bỏ 2 mục số 8 và 9) đã được chuẩn hóa tại Việt Nam. Công cụ, thang đo tình trạng căng thẳng Thực tế hiện nay, một số thang đo tình trạng căng thẳng đã và đang được sử dụng song song. Tùy thuộc vào đặc điểm của từng nhóm đối tượng mà mỗi một tác giả lại lựa chọn một bộ công cụ hoặc thang đo phù hợp. Thang đo Cảm nhận căng thẳng (Perceived Stress Scale -PSS) Hệ thống thang đo này được phát triển và hiện tại có thể phân chia thành 3 loại: PSS-4, PSS-10 và PSS-14.