CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE ROI LOẠN AN UỐNG Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TRE TUOI TREN DIA BAN TP.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về rối loan ăn uống 1.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước Rối loạn ăn uống ở người trưởng thành trẻ tuổi là một đề tài nghiên cứu đa chiều đã được tiếp cận từ lâu trên thé giới. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện, tập trung vào các khía cạnh khác nhau của van đề này, bao gồm nguyên nhân, hậu qua, và cách tiếp cận điều trị. Một số nghiên cứu đã được thực hiện, cho thấy một tỉ lệ cao dan số có những biểu hiện, triệu chứng và nguy co mắc phải chứng rối loạn ăn uống. Những nghiên cứu này được tiên hành trên người trẻ, đặc biệt là ở học sinh, sinh viên.
Nghiên cứu “Gender Difference in the Prevalence of Eating Disorder Symptoms” (Tạm dịch là “Sy khác biệt trong mức độ phô biển của các triệu chứng rồi loạn ăn uống”) đã được tiến hành trên khách thé trong độ tudi từ 18-35. Striegel- Moore và cộng sự đã thiết kế bảng hỏi gồm 32 câu để đo lường triệu chứng và hành vi của roi loạn ăn uống. Đó là một bảng hỏi tự báo cáo EDSQ (Eating Disorder Symptoms Questionare). Bảng hỏi được thiết kế dé thu thập dit liệu về mức độ phô biến của các triệu chứng rồi loạn ăn uống bao gồm hình ảnh cơ thé, ăn uống vô độ và các hành vi bù đắp không phủ hợp.
Kết quả cho một bộ phận không nhỏ khách thê nghiên cứu có biêu hiện của những lần ăn uống vô độ và phụ nữ thường gặp phải tình trạng mat kiểm soát trong khi ăn. Có sự khác biệt đáng kẻ về giới tính theo thống kê, trong đó ở phụ nữ có nhiều khả năng diễn ra việc kiểm tra cân nặng cơ thé, ăn uống vô độ, nhịn ăn, nôn mira (Striegel-Moore, et al. Nghiên cứu của Sharon L. Hoerr và cộng sự vào năm 2001 đã sử dụng thang đo EAT-26 dé xác định nguy cơ phát triển chứng rồi loạn ăn uống cũng như quan sat tan suất roi loạn hảnh vi ăn uống ở sinh viên đại học theo giới tính, dan tộc.
sự tham gia vào các tô chức xã hội và thé thao ở trường đại học. Đỗi tượng nghiên cứu là sinh viên trải đài từ năm 1 đến năm 4. Kết quả cho thấy 10,9% phụ nữ và 4,0% nam giới có nguy cơ mắc chứng roi loan ăn uông. Trong đó, tân suat “lo ngại về cân nặng anh hưởng đến kết qua học tập” va “loại bỏ thực phẩm giàu chất béo” có mối tương quan vừa phải với nguy cơ rồi loạn ăn uống ở cả hai giới.
Như vay, nghiên cứu đã tìm thay kết quả là lo ngại về cân nặng có thể ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh, sinh viên (Sharon, et al. Rối loạn ăn uống rat phô biến ở sinh viên đại học trên toàn thé giới. Tuy nhiên, ở Malaysia, các nghiên cứu về chứng rỗi loạn ăn uống còn rat ít và chủ yếu được thực hiện ở các sinh viên y khoa. Nhóm nghiên cứu của tác giả Yun Li Chan đã thực hiện nghiên cứu vào năm 2020 tại một trường Đại học tại Kuala Lumpur và khảo sát trên 1017 sinh viên.
Thang đo EAT-26 đã được sử dụng cùng với đó là các mục liên quan đến trọng lượng cơ thẻ, chỉ số khối cơ thé, nỗ lực giảm cân, sử dụng thuốc lá, rồi loạn căng thăng sau chan thương và tram cảm. Kết quả cho thấy 13.9% sinh viên đại học có nguy cơ mắc chứng rỗi loạn ăn uống. Những sinh viên đang cô gắng giảm cân và mắc chứng rồi loạn căng thắng sau chan thương đã dự đoán được chứng rối loạn ăn uống. Do đó, chứng rỗi loạn ăn uống ở sinh viên đại học đáng được quan tâm vả đòi hỏi phải thực hiện các chính sách y tế công cộng (Chan, etv al.
Tại My, Kelly A. Romano và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu nhằm mục đích xác định những thay đổi trong ty lệ mắc chứng rồi loạn ăn uống và chan đoán tỷ lệ rồi loạn ăn uống suốt đời của sinh viên Đại học tại Mỹ. Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi SCOFF nhằm sang lọc rối loạn ăn uống ở sinh viên từ năm 2013 đến năm 2020. Kết quả cho thay mức tăng phi tuyển tính từ năm 2013 đến năm 2020 trong tỷ lệ của sinh viên mắc các triệu chứng về rối loạn ăn uống, khả năng biêu hiện rôi loạn ăn uống ở thời điểm hiện tại cũng như chân đoán trong tương lai (Kelly, et al.
Danh giá về nghiên cứu này, có thê thay một mẫu lớn sinh viên trên toàn nước Mỹ đã tham gia vào nghiên cứu có nhân khâu đa dạng, do đó tính đại điện cho toàn bộ dân số là rất cao. nhược điểm lả công cụ được sử dụng chỉ mang tính sàng lọc thay vì đánh giá chân đoán, và nghiên cứu cũng chưa khám phá những ảnh hưởng của đại dich COVID-19 đến các biểu hiện rối loạn ăn uống trong giai đoạn nghiên cứu. Trong các nghiên cứu trên, thang đo EAT-26 được sử dung khá phô biển đề xác định hành vi rối loạn ăn uống ở người trẻ. Các nghiên cứu trên đều cho ra kết qua ti lệ có nguy cơ mắc rối loạn ăn uống ở người trẻ, học sinh sinh viên là khá cao, đồng thời có nghiên cứu cũng cho thấy khả năng tỉ lệ này sẽ tiếp tục tăng trong tương lai.
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu đi vào xác định tỉ lệ rồi loan ăn uống cũng như sự khác biệt trong các biến nhân khẩu khác nhau, đồng thời tìm hiểu những yếu tổ liên quan đến rồi loạn ăn uống. Nghiên cứu về roi loạn ăn uống trên sinh viên đại học ở Bangladesh nhằm tìm hiểu thai độ và hành vi ăn uống không điều độ của sinh viên đại học Bangladesh và mối liên hệ của họ với chi số khối cơ thé đã được tiền hành. Kết quả cho thay hơn 1/5 (20,4%) sinh viên trong mẫu có điểm EAT-26 >20 (17,2% nam vả 23,5% nữ). Những sinh viên có chỉ số BMI được phân loại là thừa cân hoặc béo phì được tìm thấy có nhiều khả năng có điểm EAT-26 cao hơn.
Một mỗi tương quan tích cực đáng kẻ cũng đã được tìm thấy giữa thừa cân/béo phì và rồi loạn thái độ và hành vi ăn uống (Al Banna, et al. Sự khác biệt về rồi loan ăn uống cũng được tim thay giữa ban sắc giới và chủng tộc. Nghiên cứu “Disordered Eating Among a Diverse Sample of First-Year College Students” (tam dich “Rối loan ăn uống trong nhóm đa dang sinh viên đại học năm nhất") tại Mỹ vào năm 2017 cắt ngang trên sinh viên đại học năm thứ nhất đã được thực hiện dé xác định mức độ phô biển và các yêu tô dự báo chứng roi loạn ăn uống. Có 106 sinh viên năm nhất (gồm nhiều chủng tộc) đã hoàn thành Bảng câu hỏi kiểm tra chứng rồi loạn ăn uống (EDE-Q) và một bản khảo sát bô sung.
Kết quả cho thay tỷ lệ mắc chứng rỗi loạn ăn uống ở sinh viên năm nhất là 31,1% (Michelle, et al. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác nhau trong tỷ lệ rồi loạn ăn uống giữa những người có chỉ số BMI, bản sắc giới, tình dục và chủng tộc khác nhau. Tìm hiểu về mối liên hệ giữa chế độ ăn kiêng, nhịn ăn với hành vi rối loạn ăn uống, Kyle T. Ganson và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu trên vị thành niên tại Canada.
Mục đích của nghiên cứu là xác định mức độ phd biến và đặc điểm của việc nhịn ăn gián đoạn cũng như môi liên hệ của nó với các hành vi rôi loan ăn udng va 10 bệnh lý về tâm thân. Kết qua cho thay 47,7% phụ nữ, 38,4% nam giới và 52,0% người chuyên giới/không tuân theo giới tính (TGNC) cho biết họ đã nhịn ăn gián đoạn trong 12 tháng qua. Kết quả cho thấy việc nhịn ăn gián đoạn có liên quan đáng kẻ đến chứng rồi loạn ăn uống ở phụ nữ, nam giới và những người chuyên giới/không tuân theo giới tính (Kyle, et al. Nhận thay còn khá ít nghiên cứu về roi loạn ăn uống tập trung vào nam giới, đặc biệt về mặt y khoa, nghiên cứu của Megen Vo và cộng sự vào năm 2016 đã mô tả các đặc điểm về kết quả xét nghiệm rối loạn ăn uống vả các yếu tô nguy cơ liên quan đến chứng rồi loan ăn uống ở nam giới trong độ tuôi thanh thiếu niên và thanh niên.
Có 33 bệnh nhân được đưa vào, tudi trung bình là 16 tuôi. Một nửa có tiền sử rối loạn tâm thần: 41,5% có tiên sử thừa cân hoặc béo phi và 12,1% có tiền sử gia đình mắc chứng rối loạn ăn uống. Nghiên cứu đã sử dung DSM-IV-TR và DSM- đẻ chan đoán cho các bệnh nhân. Nghiên cứu đã đưa ra kết luận những bệnh nhân nam bị rỗi loan ăn udng có biểu hiện bắt thường đáng kẻ: bệnh nhân có nhịp tim chậm va bat thường trong tư thé đứng.
Nghiên cứu đã đưa ra kết luận chứng rồi loạn ăn uống ít có khả năng được phát hiện ở nam giới, cần phải nhận biết sớm các dấu hiệu suy dinh dưỡng, đặc biệt ở những người có chỉ số khối cơ thé nằm trong phạm vi bình thường theo độ tuôi (Megen, et al. Có thẻ thay, một số nghiên cứu đã đi sâu vào đánh giá những yếu tô nẻn tảng như gen, môi trường gia đình, và ảnh hưởng từ văn hóa đối với sự phát triển của rối loạn ăn uống ở tuôi thiếu niên, thanh niên. Việc này giúp hiéu rõ hơn về nguồn gốc va những yếu tố định hình cơ bản cho van dé nay, Một số nghiên cứu thì phân tích mối quan hệ giữa rôi loạn an uống và các rối loạn tâm thần khác như trầm cảm, lo âu, và rỗi loạn tâm thần học. Việc này mở ra khả năng hiểu rõ về cơ chế tương tác giữa các van dé tâm than.
Bên cạnh đó, cũng có những nghiên cứu đã tập trung vào việc theo đõi chuyên đổi từ thanh thiêu niên đến người trưởng thành và cách rồi loạn ăn uống biến đổi trong quá trình này, Diều này cung cấp thông tin quan trọng về đặc điêm độ tuôi và sự ảnh hưởng của nó lên tinh trang sức khỏe tâm thần của người trưởng thành.2 Các công trình nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, các công trình nghiên cửu về rối loạn ăn uống vẫn còn rất tản man, chủ yếu được thực hiện vé mặt lâm sàng. Các nghiên cứu đã cung cấp dữ liệu về thực trạng rỗi loạn ăn uống của lứa tuổi học sinh, sinh viên, đồng thời cho thay mỗi tương quan của rối loạn ăn uống với các yếu tô về giới tính, lo âu, căng thang khác.