Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc rèn TDKQ cho học sinh THPT qua các bài VHS. Chương 2: Một số biện pháp rèn TDKQ cho học sinh THPT qua các VHS. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. PHẦN NỘI DUNG 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC RÈN TƢ DUY KHÁI QUÁT CHO HỌC SINH THPT QUA CÁC BÀI VĂN HỌC SỬ 1.
Cơ sở lí luận của đề tài 1.1 Những vấn đề cơ bản về năng lực tƣ duy và TDKQ có ý nghĩa quan trọng trong việc rèn luyện khả năng TDKQ cho học sinh THPT 1. Những vấn đề cơ bản về năng lực tư duy 1. Khái niệm tư duy Tư duy là gì? Đây là một vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều ngành khoa học : triết học, tâm lí học, sinh lí học. Triết học nghiên cứu tư duy ở góc độ lí luận nhận thức.
Tâm lí học nghiên cứu diễn biến của quá trình tư duy, mối quan hệ cụ thể của tư duy với các khía cạnh khác của nhận thức. Sinh lí học quan tâm tới cơ chế hoạt động của hệ thần kinh cao cấp với tư cách là nền tảng vật chất của quá trình tư duy của con người. Chính vì vậy mỗi ngành khoa học lại đưa một cách hiểu khác nhau về tư duy Trong lĩnh vực triết học, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều cách hiểu về tư duy.Rubinxtêin cho rằng “Tư duy là sự thâm nhập vào những tầng mới của bản thể, là giành lấy và đưa ra ánh sáng những cái cho đến nay vẫn giấu kín trong cõi sâu xa bí ẩn, đặt ra và giải quyết các vấn đề của thực tại cuộc sống, tìm tòi và giải đáp câu hỏi thực ra nó như thế nào, câu trả lời đó là cần thiết để biết nên sống như thế nào cho đúng và cần làm gì.Grusliăc thì cho rằng “Tư duy là quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính, bản chất, phản ánh những mối liên hệ có tính suy luận mà ta chưa biết” [10, tr. Trong lĩnh vực tâm lí học, chúng tôi nhận thấy các nhà tâm lí học trong nước cũng như nước ngoài, mỗi người có một cách hiểu riêng của mình.Spiếckin cho rằng: “Tư duy của con người, phản ánh hiện thực, về bản 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chất là quá trình truyền đạt gồm hai tính chất: Một mặt, con người hướng về vật chất, phản ánh những nét đặc trưng và những mối liên hệ của vật ấy với vật khác, và mặt khác con người hướng về xã hội để truyền đạt những kết quả của tư duy của mình” [3, tr.
Theo nhóm tác giả A.Laruđnaina thì “Sự vật hiện tượng trong thế giới có những thuộc tính và các mối quan hệ (màu sắc, âm thanh, hình dáng, sự sắp xếp của vị trí và sự vận động của sự thể trong không gian) được con người nhận thức trực tiếp qua các cảm giác, tri giác, mặt khác chúng cũng có những thuộc tính và quan hệ được con người nhận thức gián tiếp nhờ sự khái quát.Những thuộc tính, những quá trình, những mối quan hệ nằm sâu bên trong là những cái bản chất, những cái có tính quy luật. Con nguời chỉ có thể nhận thức được những thuộc tính, những mối quan hệ bên trong nhờ khái quát những tài liệu thu nhận được qua quá trình quan sát, quá trình thực nghiệm và qua một loạt lập luận, nghĩa là thông qua tư duy”. Và “Tư duy là quá trình trình phản ánh gián tiếp và khái quát hiện thực, là hoạt động của trí tuệ đi sâu vào nhận thức bản chất của sự vật hiện tượng cũng như mối quan hệ có tính quy luật giữa chúng” [1,tr.Sácđacốp phân tích “Giữa những sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan có nhiều mối quan hệ và liên hệ với nhau muôn màu, muôn vẻ : mối liên hệ và quan hệ nhân quả, thời gian, không gian, điều kiện và chức năng, tương quan thuận và nghịch, sự thống nhất, sự bằng nhau.Nhận thức và khái quát những mối liên hệ và quan hệ ấy là một trong những chức năng cơ bản của tư duy. Trong tư duy những tính chất và thuộc tính chung bản chất của những sự vật riêng lẻ thuộc một loaị nào đó được nhận thức và sau đó được khái quát hoá lên, thông qua quá trình phân tích, so sánh và tổng hợp.
Nhờ hoạt động tư duy như vậy, con người nhận thức tri thức khái quát, có tính chất khái niệm về những đối tượng của thế giới vật chất khách quan và xây dựng được những khái niệm sự vật.Trong quá trình hoạt động tư duy con 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người cũng nhận thức những mối liên hệ và quan hệ chung, bản chất của những sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội, lĩnh hội các khái niệm vè quan hệ.Trong quá trình tư duy, con người cũng hình thành những khái niệm về tính chất.cũng như khái niệm về hành động” [11, tr. Từ sự phân tích trên, Sácđacốp kết luận “Tư duy là sự nhận thức khái quát hoá và gián tiếp những sự vật và hiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính chung và bản chất của chúng, trong những quan hệ và mối liên hệ của chúng. Tư duy cũng là sự nhận thức và xây dựng sáng tạo những sự vật, hiện tượng mới, riêng lẻ của hiện thực trên cơ sở những tri thức khái quát đã thu nhận được” [11, tr. Từ cách tiếp cận mô hình xử lý thông tin, tác giả Đặng Phương Kiệt quan niệm: “Tư duy là một quá trình tâm trí phức tạp, tạo ra một biểu tượng mới bằng cách làm biến đổi thông tin có sẵn”[5,.Với cách tiếp cận này, tác giả cho rằng, các quá trình tư duy của con người được diễn ra ở đoạn trên cùng của trình tự xử lý thông tin và điều gì sẽ diễn ra khi đạt tới giai đoạn này của quá trình xử lý thông tin thì được gọi là tư duy.
Dựa trên cơ sở những mối liên hệ, quan hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan và lý thuyết phản ánh, tác giả Mai Hữu Khuê cho rằng “Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh những mối liên hệ và quan hệ giữa các đối tượng hay các hiện tượng của hiện thực khách quan”[9, tr. Tác giả cho rằng, tư duy khác hẳn với tri giác ở chỗ tư duy không chỉ thực hiện được những bước như đã xảy ra ở tri giác, là tách các phần riêng lẻ của sự vật, mà còn cố gắng hiểu các phần đó có quan hệ với nhau như thế nào. Tư duy phản ánh bản chất của sự vật, và do đó là hình thức phản ánh hiện thực cao nhất. Với việc xem tư duy như là quá trình phân tích, tổng hợp.
Nguyễn Đình Trãi cho rằng: “Tư duy là quá trình phân tích, tổng hợp, khái quát những tài liệu đã thu được qua nhận thức cảm tính, nhận thức kinh nghiệm để rút ra cái chung, cái bản chất của sự vật”[14, tr. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với tư cách là quá trình nhận thức, tập thể tác giả: Trần Minh Đức, Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn, Hoàng Mộc Lan, coi "Tư duy là một quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính của bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng mà trước đó ta chưa biết [15,tr. Các ý kiến trên cho thấy : Tư duy là một quá trình tâm lí, một thao tác trí tuệ phức tạp thuộc nhận thức lí tính, là một quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, phản ánh khái quát các thuộc tính, các mối liên hệ cơ bản, phổ biến, các quy luật không chỉ ở sự vật riêng lẻ mà ở một nhóm sự vật nhất định, tư duy tìm ra những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà ta chưa từng biết. Từ phân tích một số quan niệm về tư duy như trên để có thể hiểu sâu thêm định nghĩa của tư duy: Tư duy là quá trình tân lý phản ánh hiện thực khách quan một cánh gián tiếp, khái quát, phản ánh những thuộc tính chung và bản chất, tìm ra những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà ta chưa từng biết.
Cơ chế hoạt động của tư duy Cơ chế hoạt động cơ sở của tư duy dựa trên hoạt động sinh lý của bộ não với tư cách là hoạt động thần kinh cao cấp. Mặc dù không thể tách rời não nhưng tư duy không hoàn toàn gắn liền với một bộ não nhất định. Trong quá trình sống, con người giao tiếp với nhau, do đó, tư duy của từng người vừa tự biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân vừa chịu sự tác động biến đổi từ tư duy của đồng loại thông hoạt động có tính vật chất. Do đó, tư duy không chỉ gắn với bộ não của từng cá thể người mà còn gắn với sự tiến hóa của xã hội, trở thành một sản phẩm có tính xã hội trong khi vẫn duy trì được tính cá thể của một con người nhất định.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm của tư duy - Tính “có vấn đề” của tư duy: Không phải bất cứ hoàn cảnh nào tư duy cũng xuất hiện. Tư duy chỉ xuất hiện khi gặp những hoàn cảnh, những tình huống “có vấn đề”. Tức là những tình huống chứa đựng một mục đích, một vấn đề mới mà những hiểu biết cũ, phương pháp hành động cũ tuy còn cần thiết nhưng không đủ sức giải quyết.
Để đạt được giải quyết vấn đề mới đó con người phải tìm cách thức giải quyết, tức là phải tư duy. Nhưng tình huống có vấn đề muốn nảy sinh tư duy thì phải được cá nhân nhận thức đầy đủ, phải có nhu cầu giải quyết và có những tri thức cần thiết liên quan tới vấn đề. Chỉ trên cơ sở đó tư duy mới xuất hiện. - Tính gián tiếp của tư duy: Tính gián tiếp của tư duy được thể hiện trước hết ở việc con người sử dụng ngôn ngữ để tư duy.
Nhờ có ngôn ngữ mà con người sử dụng các kết quả nhận thức (quy tắc, công thức, khái niệm.) vào quá trình tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh…) để nhận thức được cái bên trong, bản chất của sự vật, hiện tượng.Tính gián tiếp của tư duy còn được thể hiện ở chỗ: trong quá trình tư duy con người sử dụng những công cụ, phương tiện để nhận thức đối tượng mà không thể trực tiếp tri giác chúng. - Tính trừu tượng và tính khái quát của tư duy: Tư duy không phản ánh sự vật, hiện tượng một cách riêng lẻ, cụ thể.