Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2. Xây dựng chủ đề “phương pháp tọa độ trong không gian” hình học lớp 12 theo hướng rèn kỹ năng giải toán cho HS Chương 3. Thực nghiệm sư phạm 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Kỹ năng, kỹ năng giải toán 1. Kỹ năng a) Khái niệm Trong cuộc sống luôn đặt ra các vấn đề cho chúng ta trên tất cả các lĩnh vực dù là lí luận thực hành hay nhận thức. Để giải quyết được các công việc, chúng ta cần vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm để có thể xử lí các vấn đề gặp phải. Vì vậy cần phải biết vận dụng một cách cụ thể cho từng trường hợp.
Trải qua quá trình đó, con người đã dần hình thành cho mình những kỹ năng giải quyết vấn đề mình đặt ra. Trong từ điển Tiếng Việt có ghi: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [10]. Theo giáo trình tâm lý học đại cương: “Kỹ năng là năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính, bản chất của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định” [9]. Theo giáo trình Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học Sư phạm: “Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp) để giải quyết một nhiệm vụ mới” [4].
“Trong toán học, kỹ năng là khả năng giải các bài toán, thực hiện các chứng minh đã nhận định được. Kỹ năng trong toán học quan trọng hơn nhiều so với kiến thức thuần túy, so với thông tin trơn” [11]. Từ những góc nhìn chuyên môn khác nhau, có nhiều định nghĩa khác nhau về kỹ năng. Như vậy, dù phát biểu dưới góc độ nào thì kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp.) để giải quyết nhiệm vụ đặt ra.
Để có được kỹ năng, chúng ta phải trải qua quá trình lặp đi lặp 5 lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó. Nói đến kỹ năng là nói đến khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết để đạt được mục đích đã định. Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng. b) Sự hình thành kỹ năng - Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng [4]: + Nội dung bài tập, nhiệm vụ đặt ra được trừu tượng hóa sẵn sàng hay bị che phủ bởi những yếu tố phụ làm lệch hướng tư duy có ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng.
+ Tâm thế và thói quen cũng ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng, Vì thế, tạo ra tâm thế thuận lợi trong học tập sẽ giúp cho HS dễ dàng trong việc hình thành kỹ năng. + Có khả năng khái quát đối tượng một cách toàn thể. - Sự hình thành kỹ năng: “thực chất của việc hình thành kỹ năng là hình thành cho HS nắm vững một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm làm biến đổi và sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong bài tập, trong nhiệm vụ và đối chiếu chúng với những hành động cụ thể” [4]. Do vậy, khi hình thành kỹ năng (chủ yếu là kỹ năng học tập) cho HS, GV cần chú ý: + Giúp cho HS biết cách tìm tòi để nhận ra yếu tố đã cho, yếu tố phải tìm và mối quan hệ giữa chúng.
+ Giúp HS hình thành một cách khái quát để giải quyết các bài tập, các đối tượng cùng loại. + Xác lập được mối liên quan giữa bài tập mô hình khái quát và các kiến thức tương xứng. Như vậy bất cứ kỹ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở lý thuyết đó là kiến thức. Bởi vì cấu trúc của kỹ năng là: Hiểu mục đích, biết cách thức đi đến kết quả, hiểu những điều kiện để triển khai cách thức đó.
Kỹ năng giải toán a) Khái niệm kỹ năng giải toán “Trong toán học, kỹ năng là khả năng giải các bài toán, thực hiện các chứng minh đã nhận định được. Kỹ năng trong toán học quan trọng hơn nhiều so với kiến thức thuần túy, so với thông tin trơn” [11]. “Kỹ năng giải toán là khả năng vận dụng các tri thức toán học để giải các bài tập (bằng suy luận, chứng minh)” [2]. Để thực hiện tốt môn Toán ở trong trường THPT, một trong những yêu cầu cần được đặt ra là: “Về tri thức và kỹ năng cần chú ý những tri thức, phương pháp đặc biệt là tri thức có tính chất thuật toán và những kỹ năng tương ứng.
Chẳng hạn: Tri thức và kỹ năng giải toán bằng cách lập phương trình, tri thức và kỹ năng chứng minh toán học, kỹ năng hoạt động và tư duy hàm. Một điểm đáng chú ý là: “Trong quá trình giải bài tập toán, cần khuyến khích HS tìm nhiều cách giải cho một bài toán. Mọi cách giải đều dựa vào một số đặc điểm nào đó của dữ kiện, cho nên tìm được nhiều cách giải là luyện tập cho HS biết cách nhìn nhận một vấn đề theo khía cạnh khác nhau, điều đó rất bổ ích cho việc phát triển năng lực tư duy. Mặt khác, tìm được nhiều cách giải thì sẽ tìm được cách giải hay nhất, đẹp nhất” [5].
Tuy nhiên tùy theo nội dung toán học mà có những yêu cầu rèn luyện kỹ năng khác nhau. b) Phân loại kỹ năng trong môn Toán i) Kỹ năng chung - Kỹ năng tìm hiểu nội dung bài toán: Phân tích bài toán, làm rõ các dự kiện đặt ra. Nếu bài toán có tính chất là một vấn đề thì cần tìm khâu nào còn chưa biết, một quy tắc tổng quát hoặc một phương pháp có yếu tố thuật toán để giải bài toán, xác định đó là trọng tâm cần tập trung suy nghĩ tìm hướng giải. Đây là kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, là quan trọng nhất khi giải bài 7 tập toán.
Cần làm rõ thành phần mối liên hệ (tường minh hoặc không tường minh) qua các yếu tố (có hoặc không có) trong bài toán. - Kỹ năng tìm kiếm, đề ra chiến lược giải, hướng giải cho bài toán. Vấn đề khó khăn nhất của HS khi đứng trước một bài toán. Nhiều HS không biết bắt đầu từ đâu để đi đến kết quả của bài toán.
Xét về mặt nhận thức thì việc giải một bài toán bao gồm hai quá trình: thứ nhất là tìm hướng giải, thứ hai là tiến hành giải bài toán còn gọi là chiến thuật giải bài toán. Hai quá trình này có thể được tiến hành đồng thời hoặc tách thành hai quá trình riêng biệt. Yêu cầu xác định hướng giải bài toán phụ thuộc phần lớn vào khâu này. Có nhiều cách để HS thực hiện biện pháp này: chẳng hạn, giúp HS phân loại, phân dạng bài tập để xác định phương pháp chung giải các loại, dạng bài tập đó.
Phương pháp chung sẽ được vận dụng để tìm đường lối giải cho từng bài toán cụ thể. - Kỹ năng xây dựng và thực hiển kế hoạch cụ thể giải bài toán. - Kỹ năng kiểm tra đánh giá quá trình giải bài toán - Kỹ năng thu nhận, hợp thức hóa bài toán thành kiến thức mới của người giải toán. ii) Kỹ năng cụ thể Cụ thể GV cần rèn luyện cho HS các kỹ năng: - Kỹ năng nhận thức trong môn Toán bao gồm nhiều khía cạnh đó là: khả năng nắm một khái niệm, định lý, kỹ năng áp dụng thành thạo mỗi quy tắc trong đó yêu cầu vận dụng linh hoạt, tránh máy móc, bên cạnh đó còn phải biết dự đoán và suy đoán.
- Kỹ năng thực hành trong môn Toán bao gồm kỹ năng vận dụng tri thức vào hoạt động giải toán, kỹ năng toán học hóa các tình huống thực tiễn (trong Toán học hoặc trong đời sống), kỹ năng thực hành cần thiết trong đời sống thực tiễn. - Kỹ năng tổ chức hoạt động nhận thức: Để có kỹ năng tổ chức hoạt động nhận thức đòi hỏi người học phải có kế hoạch học tập và biết cách học phù hợp với điều kiện năng lực của bản thân nhằm phấn đấu đạt được mục đích. 8 - Kỹ năng tự kiểm tra đánh giá: Hoạt động học của HS là quá trình tự vận động để chiếm lĩnh tri thức và người học không chỉ tiếp thu thụ động mà có sự điều chỉnh để đạt kết quả như mong muốn. Muốn vậy HS phải có kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá để làm căn cứ cho sự “tự điều chỉnh”.
Để rèn luyện được kỹ năng này, trước hết phải biết xác định rõ mục tiêu học tập của từng giai đoạn hay từng phần kiến thức của chương trình đối với bản thân mình. Với mỗi mục tiêu học tập, căn cứ vào mỗi lần kiểm tra của GV và nhất là căn cứ vào việc tự đánh giá khả năng học tập của bản thân thông qua việc học lý thuyết, việc giải từng bài tập. Từ đó thấy được chỗ còn yếu, chỗ còn thiếu sót của bản thân về những mặt nào đó mà đề ra phương hướng khác phục. Một khi HS đã có kỹ năng tự kiểm tra,đánh giá và biết tự điều chỉnh thì kết quả học tập được nâng lên dàn.
c) Các mức độ kỹ năng giải toán Trong toán học có thể chia làm hai nhóm kỹ năng giải toán: - Kỹ năng giải bài tập toán học cơ bản - Kỹ năng giải bài tập toán tổng hợp Trong mỗi nhóm lại có 3 mức độ khác nhau: - Mức độ biết làm: Nắm được qui trình giải một bài toán cơ bản nào đó tương tự như bài tập mẫu nhưng chưa nhanh. - Mức độ thành thạo: Biết giải nhanh, ngắn ngọn, chính xác theo cách giải như bài tập mẫu nhưng chưa có nhiều biến đổi. - Mức độ mềm dẻo, linh hoạt sáng tạo: Đưa ra được cách giải ngắn gọn, độc đáo, khác lời giải mẫu do biết vận dụng vốn kiến thức kỹ năng, kỹ xảo không chỉ với các bài toán cơ bản mà với cả bài toán mới. d) Sự hình thành kỹ năng giải toán Để cung cấp cho HS kỹ năng giải toán ta có hai phương pháp cơ bản: + Phương pháp gián tiếp: Cung cấp cho HS một số các bài toán có cùng cách giải để sau khi giải xong HS tự rút ra kỹ năng giải toán.
Đây là phương 9 pháp có hiệu quả nhất nhưng mất nhiều thời gian, khó đánh giá và không đầy đủ, phụ thuộc nhiều vào năng lực trình độ của HS. + Phương pháp trực tiếp: GV soạn thành những bài giảng về những kỹ năng một cách hệ thống và đầy đủ. Phương pháp này hiệu quả hơn và dễ nâng cao độ phức tạp của bài toán cần giải quyết.