Tổng quan nghiên cứu

Trong thực tiễn giảng dạy môn Ngữ văn cấp trung học phổ thông, khoảng 70% bài làm văn nghị luận văn học của học sinh rơi vào tình trạng diễn đạt khô khan, nặng về liệt kê luận điểm lý tính mà thiếu đi sức truyền cảm nghệ thuật. Phần lớn học sinh và giáo viên hiện nay chủ yếu tập trung vào thao tác lập luận logic thuần túy nhằm phục vụ nhận thức, vô tình bỏ qua giá trị biểu cảm to lớn của các biện pháp nghệ thuật ngôn từ. Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để trang bị cho học sinh năng lực kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy lý luận sắc bén và cảm xúc thẩm mỹ chân thực trong bài viết.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về biện pháp tu từ so sánh, khảo sát thực trạng giảng dạy và học tập, từ đó xây dựng một quy trình rèn luyện đồng bộ với hệ thống bài tập thực hành chuyên sâu. Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi toàn bộ bậc trung học phổ thông, được tiến hành khảo sát và thực nghiệm sư phạm tại 4 trường trung học phổ thông trọng điểm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh gồm: Trường Trung học phổ thông Quế Võ số 1, Trường Trung học phổ thông Quế Võ số 3, Trường Trung học phổ thông Hàn Thuyên và Trường Trung học phổ thông Lý Thường Kiệt trong năm học 2011 – 2012.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp một bộ công cụ sư phạm khả thi, giúp học sinh làm chủ kỹ năng hành văn giàu hình ảnh. Kết quả ứng dụng giúp nâng tỷ lệ bài viết đạt điểm khá và giỏi từ mức dưới 50% lên trên 68%, đồng thời giảm thiểu khoảng 50% các lỗi sai phổ biến về diễn đạt, mở ra hướng đổi mới tích cực cho phương pháp dạy học phân môn Làm văn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa của hai nền tảng lý thuyết chính: Lý thuyết tu từ học tiếng Việt và Lý thuyết phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn. Trong lịch sử ngôn ngữ học, tu từ so sánh đã được nghiên cứu từ thời kỳ cổ đại với tác phẩm Tu từ học của Aristote cách đây 2500 năm, sau đó tiếp tục được phát triển sâu sắc trong công trình Mỹ học của Hégel. Tại Việt Nam, hệ thống lý thuyết phong cách học của các tác giả Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú, Võ Bình và Nguyễn Thái Hòa đóng vai trò kim chỉ nam trong việc phân lập ranh giới giữa so sánh tu từ và so sánh logic.

Mô hình nghiên cứu phân định rõ bốn khái niệm then chốt:

  1. Biện pháp tu từ so sánh: Phương thức đối chiếu hai đối tượng khác loại có nét tương đồng nhằm tạo ra lối tri giác mới mẻ và khơi gợi cảm xúc thẩm mỹ. Cấu trúc đầy đủ gồm 4 thành tố: Đối tượng được so sánh (vế A), Phương diện so sánh, Từ so sánh, và Đối tượng dùng để so sánh (vế B).
  2. Biến thể tu từ so sánh: Các hình thức so sánh chìm, so sánh tỉnh lược phương diện hoặc từ so sánh nhằm gia tăng sức gợi mở liên tưởng.
  3. Bài văn nghị luận văn học: Thể loại văn bản dùng lý lẽ, dẫn chứng và cảm thụ nghệ thuật để bàn bạc, đánh giá về tác phẩm, tác gia hoặc vấn đề văn học sử, lý luận văn học.
  4. Tính biểu cảm trong văn nghị luận: Khả năng truyền tải thái độ, chính kiến và cảm xúc thẩm mỹ của người viết tới người đọc, giúp bài văn vừa chinh phục lý trí vừa chiếm lĩnh tình cảm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng từ các văn bản tài liệu lý luận, chương trình sách giáo khoa hiện hành, cùng dữ liệu thực tế thu thập từ hơn 300 bài làm văn của học sinh và 40 phiếu khảo sát ý kiến giáo viên tại 4 trường trung học phổ thông. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, chia đều học sinh thành hai nhóm tương đương về năng lực ban đầu: nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.

Các phương pháp phân tích chính được triển khai gồm:

  • Phương pháp phân tích ngôn ngữ: Giải mã cấu trúc ngữ nghĩa, giá trị tu từ của các biện pháp so sánh trong văn bản văn học và văn bản học sinh tạo lập. Lý do lựa chọn là nhằm xác lập các chuẩn mực biểu đạt nghệ thuật chính xác.
  • Phương pháp điều tra khảo sát: Đánh giá thực trạng nhận thức, thói quen sử dụng biện pháp so sánh của giáo viên và học sinh qua phiếu hỏi và bài tập chẩn đoán.
  • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu điểm số bài kiểm tra, định lượng mức độ tiến bộ qua các chỉ số tần suất, điểm trung bình và tỷ lệ phần trăm phân loại học lực.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học theo giáo án thực nghiệm với hệ thống bài tập mới, đối sánh định lượng và định tính với nhóm đối chứng xuyên suốt học kỳ 2 năm học 2011 – 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra và thực nghiệm sư phạm đã mang lại 4 phát hiện quan trọng có ý nghĩa thực tiễn:

Thứ nhất, khảo sát ban đầu cho thấy trên 65% học sinh trung học phổ thông chỉ xem so sánh là một thao tác lập luận tìm điểm giống và khác nhau, hoàn toàn lúng túng khi vận dụng so sánh như một biện pháp tu từ tăng cường cảm xúc. Hơn 55% bài làm văn mắc các lỗi nghiêm trọng như so sánh khập khiễng, liên tưởng gượng gạo hoặc dùng từ ngữ sáo rỗng.

Thứ hai, sau khi áp dụng quy trình rèn luyện với 3 nhóm bài tập, kết quả bài viết của học sinh lớp thực nghiệm tại Trường Trung học phổ thông Quế Võ số 1 cho thấy tỷ lệ bài đạt loại Giỏi đạt 12.5% và Khá đạt 55.7% (tổng khá giỏi đạt 68.2%), trong khi lớp đối chứng chỉ đạt 4.5% loại Giỏi và 45.0% loại Khá (tổng khá giỏi đạt 49.5%). Chênh lệch tỷ lệ khá giỏi giữa hai nhóm lên tới 18.7%.

Thứ ba, tại các trường Trung học phổ thông Quế Võ số 3, Hàn Thuyên và Lý Thường Kiệt, điểm số trung bình của nhóm thực nghiệm luôn cao hơn nhóm đối chứng từ 0.75 đến 1.2 điểm trên thang điểm 10. Tỷ lệ bài viết điểm yếu kém ở nhóm thực nghiệm giảm xuống dưới 3%, trong khi nhóm đối chứng vẫn duy trì ở mức 12% đến 15%.

Thứ tư, tần suất học sinh chủ động tạo lập các câu văn so sánh giàu hình ảnh tăng hơn 2.5 lần. Tỷ lệ lỗi sai về sự tương thích ngữ nghĩa giữa hai vế so sánh giảm mạnh trên 50%, giúp bài văn trở nên mềm mại, có giọng điệu riêng biệt.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi tạo nên sự chuyển biến vượt bậc này xuất phát từ việc hệ thống bài tập được thiết kế khoa học theo 5 nguyên tắc sư phạm: đảm bảo phù hợp tư tưởng tình cảm, đúng lúc đúng chỗ, tôn trọng nét sáng tạo riêng, đi từ kỹ thuật đến nghệ thuật, và đảm bảo tính vừa sức kết hợp tạo sức. Khi học sinh trải qua 3 giai đoạn rèn luyện (nhận biết - phân tích giá trị, tạo lập câu văn đoạn văn, và chữa lỗi sai), các em không chỉ hiểu cơ chế tạo hình ảnh mà còn hình thành phản xạ thẩm mỹ tự nhiên.

So sánh với các nghiên cứu trước đây của tác giả Đinh Trọng Lạc về phong cách học hay tác giả Nguyễn Đăng Mạnh về kỹ thuật viết văn hay, công trình này đã bước tiến xa hơn khi chuyển hóa tri thức hàn lâm thành quy trình sư phạm ứng dụng cụ thể trong nhà trường phổ thông. Thay vì chỉ phân tích cái hay của văn hào như Nguyễn Tuân, Nam Cao, hệ thống bài tập đã trao quyền cho học sinh tự tạo lập phong cách cá nhân.

Các kết quả thực nghiệm khi biểu diễn qua biểu đồ phân phối điểm số thể hiện sự dịch chuyển rõ rệt của đồ thị hình chuông từ vùng điểm trung bình (5.0 – 6.0) sang vùng điểm khá giỏi (7.0 – 8.5). Bảng đối chiếu tần suất sử dụng hình ảnh so sánh cũng khẳng định sự thay đổi chất lượng rõ nét trong cấu trúc đoạn văn nghị luận.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể nhằm nâng cao chất lượng dạy học Làm văn:

  1. Tích hợp đồng bộ hệ thống 3 nhóm bài tập tu từ so sánh vào kế hoạch bài dạy phân môn Làm văn khối 10, 11 và 12. Mục tiêu đạt 100% giáo viên bộ môn thực hiện các tiết luyện tập viết đoạn có lồng ghép biện pháp tu từ trong vòng 1 năm học. Chủ thể thực hiện là Tổ chuyên môn Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông.

  2. Tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng phương pháp giảng dạy tu từ học ứng dụng định kỳ 2 lần mỗi năm học. Mục tiêu nâng tỷ lệ giáo viên tự tin hướng dẫn kỹ năng biểu cảm cho học sinh lên trên 90% trong giai đoạn 2012 – 2014. Chủ thể thực hiện là Phòng Giáo dục Trung học thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng các trường đại học sư phạm.

  3. Biên soạn cẩm nang hướng dẫn nhận diện và sửa chữa lỗi dùng từ, đặt câu so sánh trong văn nghị luận phát cho học sinh đầu cấp. Mục tiêu giảm ít nhất 70% các lỗi diễn đạt sáo rỗng, lệch chuẩn thẩm mỹ trong các bài kiểm tra học kỳ và kỳ thi tốt nghiệp. Chủ thể thực hiện là nhóm giáo viên cốt cán bộ môn Ngữ văn.

  4. Cải tiến biểu điểm và tiêu chí chấm bài làm văn nghị luận văn học, quy định cụ thể thang điểm từ 1.0 đến 1.5 điểm dành riêng cho tính sáng tạo, giọng điệu và việc sử dụng các biện pháp tu từ nghệ thuật. Thời gian triển khai ngay trong các kỳ thi kiểm tra định kỳ hàng năm do Ban Giám hiệu và Hội đồng khảo thí phê duyệt.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Giáo viên Ngữ văn cấp trung học phổ thông: Khai thác trực tiếp hệ thống bài tập 3 cấp độ cùng các giáo án mẫu thực nghiệm để đổi mới phương pháp dạy học phần Làm văn, khắc phục triệt để tình trạng bài viết của học sinh bị khô cứng, thiếu cảm xúc.

  2. Sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Ngữ văn: Sử dụng luận văn làm tài liệu nghiên cứu chuyên khảo về phương pháp kết hợp kiến thức tiếng Việt với kỹ năng tạo lập văn bản nghị luận, nắm bắt quy trình tổ chức thực nghiệm sư phạm chuẩn mực.

  3. Học sinh trung học phổ thông và thí sinh ôn thi học sinh giỏi, thi tốt nghiệp, đại học: Nắm vững các mô hình tạo lập câu văn so sánh nghệ thuật, biết cách chuyển hóa cảm xúc thành lời văn sinh động, từ đó nâng band điểm bài thi từ mức trung bình khá (6.0 – 6.5) lên mức giỏi (8.0 – 9.0).

  4. Cán bộ quản lý giáo dục và chuyên viên phát triển chương trình: Tham khảo căn cứ thực tiễn để xây dựng chương trình giảng dạy tích hợp giữa phân môn Tiếng Việt và Làm văn, góp phần nâng cao hiệu quả đổi mới giáo dục phổ thông.

Câu hỏi thường gặp

Biện pháp tu từ so sánh khác gì so với thao tác lập luận so sánh trong văn nghị luận? Thao tác lập luận so sánh là hoạt động tư duy logic nhằm đối chiếu các đối tượng cùng hoặc khác loại để tìm điểm tương đồng và dị biệt phục vụ cho nhận thức chân lý. Trong khi đó, biện pháp tu từ so sánh đối chiếu hai đối tượng dị loại có nét tương đồng để gợi ra hình ảnh cụ thể, đánh thức cảm xúc thẩm mỹ và tăng tính biểu cảm cho lời văn.

Cấu tạo hoàn chỉnh của một biện pháp tu từ so sánh gồm những yếu tố nào? Một mô hình so sánh đầy đủ bao gồm 4 thành tố: Đối tượng được so sánh (vế A), Phương diện so sánh, Từ ngữ biểu đạt quan hệ so sánh (như, tựa như, là, hơn, kém), và Đối tượng dùng để so sánh làm chuẩn đối chiếu (vế B). Trong thực tế hành văn, phương diện hoặc từ so sánh có thể được lược bỏ để tạo thành so sánh chìm giàu sức liên tưởng.

Làm thế nào để tránh tình trạng so sánh khập khiễng hoặc sáo rỗng trong bài làm văn? Người viết cần đảm bảo 3 tiêu chí: chọn vế so sánh chuẩn mực phù hợp với quan niệm thẩm mỹ chung, xác định rõ nét tương đồng có tính bản chất giữa hai đối tượng, và đặt hình ảnh so sánh đúng ngữ cảnh bài viết. Việc rèn luyện nhóm bài tập chữa lỗi diễn đạt thường xuyên sẽ giúp học sinh loại bỏ thói quen dùng hình ảnh gượng ép.

Hệ thống bài tập rèn luyện trong luận văn gồm những nhóm nào? Luận văn xây dựng hệ thống bài tập toàn diện gồm 3 nhóm chính: Nhóm bài tập nhận biết và phân tích giá trị biểu cảm của biện pháp tu từ so sánh; Nhóm bài tập tạo lập biện pháp so sánh ở cấp độ câu, đoạn và bài văn nghị luận; Nhóm bài tập phát hiện và sửa chữa các lỗi dùng từ, lỗi liên tưởng sai lệch trong bài viết.

Việc tăng cường biện pháp tu từ so sánh có làm loãng tính logic của bài văn nghị luận không? Hoàn toàn không, nếu người viết tuân thủ nguyên tắc sử dụng đúng lúc, đúng chỗ. Biện pháp tu từ so sánh đóng vai trò bổ trợ đắc lực, giúp các luận điểm lý tính trừu tượng trở nên cụ thể, giàu sức sống, từ đó nâng cao sức thuyết phục cả về lý trí lẫn tình cảm đối với người chấm.

Kết luận

  • Luận văn đã giải quyết toàn diện vấn đề nâng cao tính biểu cảm trong văn nghị luận văn học bằng biện pháp tu từ so sánh.
  • Khẳng định vai trò kép của so sánh: vừa là công cụ nhận thức chân lý, vừa là phương tiện tạo hình nghệ thuật độc đáo.
  • Xây dựng thành công hệ thống 3 nhóm bài tập thực hành hóa có tính khả thi cao, áp dụng hiệu quả cho học sinh trung học phổ thông.
  • Chứng minh tính ưu việt qua số liệu thực nghiệm với tỷ lệ học sinh đạt điểm khá giỏi tăng hơn 18.7% so với phương pháp truyền thống.
  • Đóng góp nguồn tư liệu sư phạm chất lượng, làm cầu nối tích hợp hiệu quả giữa phân môn Tiếng Việt và phân môn Làm văn.

Trong giai đoạn tiếp theo từ 2 đến 3 năm, các tổ bộ môn Ngữ văn cần nhân rộng quy trình rèn luyện này vào tất cả các khối lớp phổ thông. Quý thầy cô giáo và các em học sinh hãy chủ động áp dụng ngay hệ thống bài tập thực hành để biến mỗi bài văn nghị luận thành một tác phẩm giàu sức thuyết phục và thăng hoa cảm xúc thẩm mỹ.