mở đầu việc khái quát lịch sử vấn đề bằng cách đề cập đến công trình Giáo trình Việt ngữ tập III (phần Tu từ học) của tác giả Đinh Trọng Lạc [8]. Công trình này là một trong ba cuốn giáo trình đầu tiên về ngôn ngữ được chính thức sử dụng ở trường Đại học Sư phạm những năm 60 thế kỷ XX. Ngoài những vấn đề lý luận về ngôn ngữ nói chung, công trình này là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên đã trình bày rất kỹ lưỡng, sâu sắc về biện pháp tu từ so sánh. Tác giả công trình này đã dành nhiều trang để bàn về khái niệm, cấu trúc, chức năng và một số giá trị của biện pháp tu từ so sánh trong cách diễn đạt.
Có thể nói rằng, đây là một công trình khoa học nghiêm túc, có giá trị, đóng vai trò làm cơ sở lý luận về tu từ học nói chung, về biện pháp tu từ so sánh nói riêng cho những công trình nghiên cứu khoa học khác sau này đi sâu, nâng cao sự hiểu biết về biện pháp tu từ, trong đó có biện pháp tu từ so sánh. Sau công trình nói trên của tác giả Đinh Trọng Lạc, năm 1982, cuốn sách Phong cách học tiếng Việt của các tác giả Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa [2] được xuất bản. Biện pháp tu từ so sánh được 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phân tích tương đối kỹ trong phần “Các phương thức ngữ nghĩa được cấu tạo theo quan hệ liên tưởng” của cuốn sách. Các tác giả cuốn sách đã trình bày khá sâu sắc, rõ ràng về các vấn đề lý luận: khái niệm so sánh nghệ thuật (so sánh hình ảnh, tu từ so sánh.), hình thức so sánh nghệ thuật, giá trị của so sánh nghệ thuật.
Những quan điểm lý luận về biện pháp tu từ so sánh của các tác giả cuốn Phong cách học tiếng Việt nói trên, nhìn chung có những nét tương đồng với những quan điểm của tác giả Đinh Trọng Lạc đã được nêu trong công trình Giáo trình Việt ngữ tập III (phần Tu từ học). Đồng thời chúng ta có thể nhận thấy những đóng góp mới của công trình Phong cách học tiếng Việt so với công trình Giáo trình Việt ngữ tập III. Sự khác biệt, đóng góp mới của công trình này chính là ở chỗ các tác giả công trình đã chỉ ra tính phong phú, đa dạng của các hình thức tu từ so sánh, và nguyên nhân của tính phong phú, đa dạng đó. Các tác giả Phong cách học tiếng Việt đã viết về điều này như sau: “So sánh mang đặc trưng của phong cách thời đại, phong cách dân tộc, phong cách tác giả.
Tìm hiểu sự khác nhau giữa cách so sánh trong văn học cổ điển với văn học hiện đại, giữa cách so sánh trong ca dao với thơ ca bác học, giữa cách so sánh của nhà thơ này với nhà thơ khác là một điều thú vị. Có người ưa dùng cách so sánh mang tính trí tuệ, có người ưa so sánh mộc mạc, chân chất, chính xác và pha mầu hài hước như văn chương dân gian. Sự khác nhau này do nội dung, thể tài, khuynh hướng sáng tác, tâm lý dân tộc, thời đại…quy định”. Từ những nhận định đó các tác giả đã đưa ra một dự báo về một hướng nghiên cứu trong tiếng Việt văn học sẽ được hình thành: nghiên cứu tu từ so sánh: “…trong việc nghiên cứu tiếng Việt văn học, so sánh cũng như nhiều phương thức tạo hình gợi cảm khác còn đặt ra cho chúng ta nhiều vấn đề phải giải quyết”.
Cho đến nay, dự báo này đã trở thành hiện thực. Tu từ so sánh hiện nay đã là một trong những vấn đề được đề cập nhiều trong việc nghiên cứu tiếng Việt văn học. Đến năm 1983, cuốn sách Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt của tác giả Cù Đình Tú [24] được xuất bản. Trong cuốn sách này, tác giả đã 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đưa ra khái niệm tu từ so sánh, nhìn chung không khác nhiều với những quan điểm của các tác giả trong những công trình nghiên cứu ngữ văn khác.
Từ khái niệm này, tác giả đã phân tích sâu hơn sự khác biệt giữa so sánh tu từ với so sánh logic. Đặc biệt tác giả còn đưa ra hai tiêu chí để phân loại so sánh tu từ: hình thức và nội dung so sánh. Về hình thức so sánh, tác giả căn cứ vào sự xuất hiện của những “từ so sánh”: như, tưởng như, giống như, tựa như… – so sánh ngang bằng; hơn, kém, hơn cả, kém nhất …- so sánh hơn kém; là, bao nhiêu, bấy nhiêu…- so sánh tương đồng. Về nội dung so sánh, tác giả căn cứ vào sự xuất hiện hay không xuất hiện, trực tiếp hay gián tiếp những yếu tố giống nhau giữa hai vế so sánh (A và B) để phân loại thành so sánh nổi và so sánh chìm.
Với những nội dung nói trên, công trình Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt của tác giả Cù Đình Tú được coi là một đóng góp có ý nghĩa vào việc nghiên cứu biện pháp tu từ so sánh trong tiếng Việt. Cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt của tác giả Đinh Trọng Lạc [7] và cuốn Sổ tay tiếng Việt phổ thông trung học của đồng tác giả Đinh Trọng Lạc và Lê Xuân Thại [9] là những cuốn sách được biên soạn dưới dạng từ điển tra cứu về ngôn ngữ nói chung và tu từ học nói riêng. Các tác giả của hai cuốn sách nói trên đã giới thiệu một cách chi tiết các biện pháp tu từ tiếng Việt như: biện pháp tu từ từ vựng (hòa hợp, tương phản, quy định, tu từ từ vựng âm); biện pháp tu từ ngữ nghĩa (so sánh, đồng nghĩa kép, thế đồng nghĩa, phản ngữ, nghịch ngữ, tiệm tiến, tiệm thoái, lộng ngữ, nói lái); biện pháp tu từ ngữ âm - văn tự (điệp phụ âm đầu. điệp vần, điệp thanh, tượng thanh, hài âm, tạo nhịp điệu, tạo âm hưởng, chữ hoa tu từ, chữ cái tu từ, chữ in tu từ, chấm tu từ, phẩy tu từ, chấm lửng tu từ, gạch nối tu từ).
Ngoài ra, các tác giả còn phân biệt hai khái niệm ngôn ngữ học dễ bị nhầm lẫn với nhau: phương tiện tu từ và biện pháp tu từ. Theo các tác giả, “phương tiện tu từ là những phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (ý nghĩa sự vật – lô gich) ra, chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ”, còn “biện pháp tu từ là cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ, không kể là trung hòa hay tu từ (còn được gọi là diễn cảm) trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ”. Chính nhờ sự phân biệt rõ ràng này việc nghiên cứu, giảng dạy vấn đề tu từ nói chung và tu từ so sánh nói riêng được thuận lợi hơn. Chương IV của cuốn sách Phong cách học tiếng Việt của tác giả Đinh Trọng Lạc (chủ biên) và Nguyễn Thái Hòa [10, tr.160-222]: Các phương tiện tu từ và các biện pháp tu từ tiếng Việt được dành riêng cho vấn đề những phương tiện và các biện pháp tu từ tiếng Việt.
Trong chương này, ngoài việc tiếp tục phân biệt rạch ròi phương tiện tu từ và biện pháp tu từ, các tác giả đã miêu tả những phương tiện tu từ cơ bản cũng như những biện pháp tu từ cơ bản của tiếng Việt bằng những dẫn chứng lấy trong tư liệu ngôn ngữ mới, đa dạng ở tất cả các cấp độ một cách nhất quán, kể cả cấp độ văn bản. Về các phương tiện tu từ ngữ nghĩa các tác giả đã chia các phương tiện tu từ ngữ nghĩa thành ba tiểu nhóm (mỗi nhóm có một phương thức tiêu biểu): - nhóm tu từ so sánh; - nhóm tu từ ẩn dụ; - nhóm tu từ hoán dụ. Khi phân tích nhóm tu từ so sánh (liên quan vấn đề nghiên cứu của luận văn này), các tác giả đã đưa ra định nghĩa: “So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe…”. Các tác giả của công trình nghiên cứu này cũng đưa ra những tiêu chí để phân biệt tu từ so sánh với so sánh logic: “So sánh tu từ học khác với so sánh logic ở tính hình tượng, tính biểu cảm và tính dị loại (không cùng loại) của sự vật”.
Đáng chú ý là, các tác giả đưa ra một nhận định sâu sắc về hiện tượng khúc xạ của ngôn ngữ trong tu từ so sánh, và hiệu quả biểu cảm của hiện 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tượng khúc xạ này : “…mọi so sánh (trong ngôn ngữ) đều khập khiễng. Đó chính là hiện tượng khúc xạ của ngôn ngữ. Trong những so sánh tu từ, hiện tượng khúc xạ còn tăng lên nhiều lần vì còn mang sắc thái chủ quan của người so sánh. Khi ta nói: “Người đẹp như hoa” thì hoa là chuẩn để so sánh, đem người so sánh với hoa đã là việc khác thường, nhưng Lý Bạch ca ngợi Dương Quý Phi đến mức: “Ở đây hoa cũng đẹp như người” hay Tố Hữu viết: “Đêm qua trăng sáng Cổ Ngư/ Trăng in mặt ngọc, trăng như mặt người” thì chính sự thái quá của cảm xúc đã nâng hình tượng vượt hẳn lên mức độ của sự so sánh thông thường” [10, tr.
Các tác giả còn chỉ ra 4 yếu tố của hình thức đầy đủ nhất của biện pháp tu từ so sánh, đó là: 1. Cơ sở so sánh; 3. Từ so sánh; 4. Cái được so sánh.
Sau đó chỉ ra những kiểu biến thể của tu từ so sánh (đảo trật tự so sánh; bớt cơ sở (thuộc tính so sánh); bớt từ so sánh; thêm “bao nhiêu”, “bấy nhiêu”; dùng “là” làm từ so sánh). Theo các tác giả, cứ mỗi kiểu biến thể như vậy sẽ tạo ra một kiểu tu từ so sánh và như vậy ta có những nhóm tu từ so sánh khác nhau [10, tr.191] Trong Từ điển thuật ngữ văn học do các tác giả Lê Bá Hán (chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi biên soạn, nhà xuất bản Đại học Quốc gia xuất bản năm 1999, các tác giả đã đưa ra định nghĩa (tu từ) so sánh trong văn học: “So sánh còn gọi là tỉ dụ.