Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hướng dẫn rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dọng sách giáo khoa trong dạyy học lịch sử ở trường THPT. Chương 2: Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng sách giáo khoa cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới cận đại lớp 10 THPT (chương trình chuẩn). 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com *** CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KĨ NĂNG SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1.Quan niệm về kĩ năng Về kĩ năng, các tài liệu tâm lý học và giáo dục học trong và ngoài nước đã có nhiều ý kiến khác nhau.
Theo từ điển Tiếng Việt “Kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức đã nhận được trong một lĩnh vực nào đó áp dụng vào thực tế” [40, tr.A Krutetxki kĩ năng là phương thức thực hiện hành dộng đã được con người nắm vững, chỉ cần nắm vững phương thức hành động là con người có kĩ năng [41, tr. Lêvitốp cho rằng kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động nào đó, hoặc một hành động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn có tính lý thuyết về hành động mà phải biết vận dụng vào thực tế [43, tr. Côluvep thì kĩ năng là năng lực của con người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện và trong những khoảng thời gian tương ứng. Bất kì một kĩ năng nào cũng bao hàm trong nó cả biểu tượng về khái niệm, vốn tri thức, kỹ xảo,… Cơ sở tâm lý của kĩ năng là sự hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữa mục đích hoạt động, các điều kiện và phương thức thực hiện.
77] 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Kĩ năng là những khả năng vận dụng những tri thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn [15, tr. - Kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm về hành động này để tiến hành phù hợp với những điều kiện cho phép, vì vậy kĩ năng không chỉ là mặt kĩ thuật của hành động mà còn biểu hiện năng lực của chủ thể [27, tr. Trên cơ sở đó các tác giả Nguyễn Thị Mĩ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Tính đã đưa ra khái niệm về kĩ năng học tập: “kĩ năng học tập là sự thực hiện có kết quả các hành động phân tích, mô hình hóa, khái quát hóa các đối tượng nhận thức… bằng cách vân dụng những tri thức kinh nghiệm về hành động này để tiến hành phù hợp với những điều kiện cho phép”. - Kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp,…) để giải quyết nhiệm vụ mới [21, tr.
80] Như vậy trong tâm lý học kĩ năng được xem xét theo hai khuynh hướng: Khuynh hướng thứ nhất xem xét kĩ năng là góc độ kĩ thuật của hành động. Theo các tác giả chỉ cần nắm vững cách thức của hành động là có kĩ năng. Tiêu biểu cho quan niệm này là các nhà nghiên cứu A.A Krutetxki,Trần Trọng Thuỷ,… Khuynh hướng thứ hai xem xét kĩ năng nghiêng về mặt năng lực của con người. Đại diện cho nhóm này là Kharlamop [34], X.
Côluvep, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn,. Theo quan niệm này kĩ năng vừa có tính ổn định lại có tính mềm dẻo, tính linh hoạt và tính mục đích. - GS Nguyễn Thị Côi trong cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm Lịch sử” cho rằng: người có kĩ năng về một hành động nào đó là người phải có: tri thức về hành động (gồm mục đích, cách thức thực hiện hành động, các điều kiện thực hiện hành động), thực hiện hành động đúng với yêu cầu 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của nó, đạt được hiệu quả của hành động như mục đích đã đặt ra, có thể hành động đạt kết quả với những hành động tương tự trong những điều kiện khác nhau. Trên cơ sở đó tác giả rút ra kết luận: “Có thể hiểu kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép” [10, tr.
Từ các quan niệm trên có thể hiểu kỹ năng là sự thực hiện của con người một cách có hiệu quả một hành động nào đó bằng cách lựa chọn những cách thức hành động phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.1 Quan niệm về rèn luyện kĩ năng Theo từ điển Tiếng Việt: Rèn luyện là luyện tập nhiều trong thực tế để đạt tới những phẩm chất hay trình độ vững vàng, thông thạo. Bản thân chúng ta sinh ra chưa có kỹ năng về một khía cạnh cụ thể nào (trừ kĩ năng bẩm sinh) nhất là kỹ năng công việc. Do đó nền tảng của sự thành công trong cuộc sống là do 98% được đào tạo và tự đào tạo kỹ năng, chỉ có 2% là kỹ năng bẩm sinh tham gia vào sự thành công của chúng ta. Vì thế Êđixơn đã nói thiên tài là 1% trí thông minh cộng với 99% mồ hôi và nước mắt.
Trong học tập “GV phải tạo cơ hội cho HS được thụ hưởng một cách tích cực, tự giác nội dung dạy học, giáo dục và được hình thành vững chắc một số kĩ năng cơ bản. Một số kĩ năng cơ bản đó sẽ gắn bó chặt chẽ với họ trong suốt cuộc đời và làm cơ sở nền tảng cho sự thành công trong sự nghiệp của họ. Điều đó có nghĩa là để HS có được các kĩ năng, GV phải có các bước hướng dẫn cụ thể với từng kĩ năng, sau đó HS phải được thực hành với từng kĩ năng và các kĩ năng sẽ trở nên thuần thục khi các em thường xuyên được luyện tập, được sử dụng. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các tài liệu tâm lý học và giáo dục học đã khẳng định, một kĩ năng hành động nào đó được hình thành phải trải qua nhiều giai đoạn: Trước hết, là sự nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động.
Đây là giai đoạn quan trọng, vì nếu không xác định được mục đích sẽ không có hướng hành động và khó có thể nắm được cách thức hành động để đạt được kết quả mong muốn. Đồng thời với việc nhận thức mục đích, cần phải nắm vững các bước, các thao tác thực hiện hành động. Việc lĩnh hội này có thể do con người tự học, cũng có thể do người khác hướng dẫn. Tuy nhiên việc hình thành kiến thức ở giai đoạn này mới chỉ là tiếp nhận lý thuyết chứ chưa hành động thực sự nên chưa thể nói là đã có kĩ năng.
Nhưng nếu không có bước này thì người học phải lần mò, khó hoàn thành công việc có hiệu quả và mất nhiều thời gian. Tiếp theo là giai đoạn GV làm mẫu bằng các ví dụ minh họa cụ thể qua các tiết học, bài học, HS “quan sát mẫu” và “làm thử theo mẫu”. Công việc này giúp các em thấy được khả năng vận dụng tri thức vào hoạt động, xem hoạt động có những ưu và nhược điểm như thế nào cần phát huy, cần sửa chữa và củng cố tri thức đã nắm. Ở giai đoạn này, việc làm thử ngắn hay dài phụ thuộc vào năng lực của mỗi HS.
Cuối cùng, sau khi làm thử để nắm chắc cách làm, người học phải thực hành và luyện tập nhiều lần. Ở giai đoạn này, các thao tác, các bước thực hiện hành động dần dần được chính xác hơn. Đồng thời các tri thức và cách thức hành động được ôn luyện làm cho người học nắm chắc hành động hơn. Đến đây có thể nói kĩ năng đã được hình thành song chưa hoàn toàn ổn đinh.
Kĩ năng thực sự ổn định chỉ khi trong điều kiện khác con người hành động vẫn đạt kết quả. Đồng thời trong giai đoạn này GV phải thường xuyên kiểm tra và uốn nắn kịp thời. Việc luyện tập đạt kết quả cao hay thấp phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó sự nỗ lực của người học giữ vai trò quyết định. Bên cạnh việc chỉ ra những 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điều kiện hình thành kĩ năng, các nhà tâm lý học, giáo dục học cũng khẳng định: muốn hình thành kĩ năng người học phải hiểu đầy đủ về hành động, phải thường xuyên luyện tập, có sự kiểm tra và tự kiểm tra, có tính tự giác trong làm việc.
Như vậy rèn luyện kĩ năng học tập là rèn luyện cho học sinh một hệ thống thao tác nhằm làm biến đổi đối tượng và làm sáng tỏ những thông tin trong nhiệm vụ học tập, đối chiếu chúng với hành động cụ thể. Để rèn luyện cho HS các kĩ năng sử dụng SGK Lịch sử trong học tập, GV cần phải tuân thủ các bước hình thành kĩ năng trên và cần rèn luyện những kĩ năng cơ bản phù hợp với đặc trưng bộ môn như: kĩ năng ghi nhớ kiến thức (ghi nhớ, tái hiện, nhớ lại,.), kĩ năng tư duy (phân tích, so sánh, tổng hợp, đánh giá các sự kiện lịch sử) , kĩ năng tự ôn tập và kiểm tra đánh giá kết quả nhận thức… Những kĩ năng trên vừa thực hiện được ở lớp, ở nhà và các hoạt động ngoại khóa. Vì vậy trong quá trình dạy học GV phải quan tâm và thực hiện các bước rèn luyện kĩ năng cho HS. Quan niệm về sách giáo khoa nói chung, sách giáo khoa Lịch sử nói riêng.
Quan niệm về sách giáo khoa nói chung. Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về sách giáo khoa, nhưng tựu chung lại có những quan niệm chính và cơ bản sau đây: - I.F Kharlamốp quan niệm: “Sách giáo khoa và tài liệu học tập phải trở thành một trong những nguồn chủ yếu cung cấp kiến thức và là phương tiện quan trọng của việc tổ chức công tác tự lập của học sinh trong giờ học” [34, tr. 36] - Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “Sách giáo khoa là sách biên soạn theo chương trình dạy học ở các trường học” [40, tr. 813] - Quan niệm về sách giáo khoa được pháp chế hóa trong Luật Giáo dục: “sách giáo khoa do bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn và duyệt trên cở 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thẩm định của Hội đồng quốc gia để sử dụng chính thức, thống nhất, ổn định trong giảng dạy, học tập ở nhà trường và các cơ sở giáo dục khác” [45, tr.