Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Sư phạm Địa lí của tác giả Trần Nguyên Ngọc Phương (Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, khóa 1996 - 2000, do PGS.TS Phan Huy Xu hướng dẫn) được thực hiện trong bối cảnh toàn ngành giáo dục triển khai tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII. Trọng tâm của giai đoạn này là chuyển dịch từ phương pháp giáo dục truyền thống lấy giáo viên làm trung tâm, nặng về thuyết giảng một chiều và ghi nhớ máy móc sang phương pháp tích cực lấy học sinh làm trung tâm, bồi dưỡng năng lực tự học, kỹ năng thực hành và tư duy giải quyết vấn đề thực tiễn.

Trong bộ môn Địa lí ở bậc trung học phổ thông (THPT), đây là môn khoa học có phạm trù nghiên cứu rộng lớn và mang tính thực nghiệm cao. Môn học không chỉ dừng lại ở việc mô tả bề mặt không gian địa hình, sự vật hiện tượng mà còn đòi hỏi người học phải giải thích, so sánh, phân tích các mối liên hệ nhân quả và quy luật kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thực tế giảng dạy tại các trường phổ thông khi đó cho thấy tình trạng "dạy chay" còn phổ biến, việc sử dụng đồ dùng trực quan còn mang tính hình thức, học sinh quen lối học thuộc lòng kênh chữ để đối phó thi cử. Kênh hình chưa được khai thác đúng tầm vóc như một nguồn cung cấp tri thức độc lập. Từ lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài: "Sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa lớp 12 nhằm khai thác tri thức cho học sinh".

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Xác lập cơ sở lý luận dạy học địa lí về việc chuyển hóa chức năng của kênh hình từ công cụ minh họa đơn thuần sang nguồn cung cấp tri thức chủ yếu cho học sinh.
  2. Đánh giá thực trạng sử dụng phương tiện trực quan và kênh hình trong giảng dạy bộ môn Địa lí tại một số trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
  3. Phân tích cấu trúc, số lượng và chất lượng hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí 12 chương trình cải cách giáo dục.
  4. Đề xuất quy trình và phương pháp sư phạm khai thác tri thức từ từng thể loại kênh hình (lược đồ, bản đồ treo tường, biểu đồ, tranh ảnh, Atlat Địa lí Việt Nam).
  5. Thiết kế giáo án thực nghiệm minh họa nhằm chứng minh tính khả thi của phương pháp dạy học phát huy tư duy độc lập của học sinh qua kênh hình.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí 12 và các phương tiện trực quan địa lí bổ trợ, cùng các biện pháp sư phạm nhằm phát huy năng lực nhận thức của học sinh. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian tập trung khảo sát, kiến tập và thực tập sư phạm tại các trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (gồm Trường THPT Mạc Đĩnh Chi, Trường THPT Nguyễn Thái Bình và Trường Cấp II-III Thủ Thiêm). Phạm vi nội dung giới hạn trong chương trình sách giáo khoa Địa lí 12 cải cách giáo dục mang tên "Những vấn đề kinh tế - xã hội Việt Nam" với thời lượng 1 tiết/tuần (gồm 25 bài học cơ bản). Về phương tiện, đề tài giới hạn ở các dạng kênh hình truyền thống (sách giáo khoa, bản đồ treo tường, Atlat, tranh ảnh), không đi sâu vào các phương tiện kỹ thuật hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các nguyên tắc giáo dục học, lý luận dạy học bộ môn Địa lí và các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hệ thống văn bản quy phạm và định hướng chuyên môn được tác giả trích dẫn gồm:

  • Tinh thần đổi mới phương pháp giảng dạy theo Nghị quyết Đại hội VII và Nghị quyết Trung ương 2 của Đảng;
  • Công văn số 8326/THPT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn dạy học bộ môn Địa lí theo phương pháp đổi mới;
  • Chỉ thị số 43/1998/CT-BGD&ĐT và Chỉ thị số 32/1999/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về cải tiến phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh;
  • Thông tư 30 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về việc cung cấp và sử dụng thiết bị bản đồ giáo khoa treo tường;
  • Văn kiện Hội nghị chuyên đề "Đổi mới phương pháp dạy học Địa lí Trung học" do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tại Hà Nội ngày 20/10/1999;
  • Báo cáo khoa học tại Hội thảo "Nâng cao hiệu quả dạy học Địa lí ở trường trung học phổ thông" do Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh tổ chức ngày 18/4/2000.

Về mặt lý thuyết dạy học, đề tài vận dụng bốn nguyên tắc cơ bản trong giảng dạy địa lí:

  • Nguyên tắc bảo đảm tính khoa học và tính vừa sức đối với học sinh;
  • Nguyên tắc bảo đảm tính hệ thống và liên hệ với thực tiễn;
  • Nguyên tắc bảo đảm tính giáo dục tư tưởng;
  • Nguyên tắc bảo đảm tính tự lực và sự phát triển tư duy nhận thức của học sinh.

Tác giả tiếp cận quá trình dạy học như một hệ thống cấu trúc ba thành tố thống nhất biện chứng: khái niệm khoa học (đối tượng lĩnh hội), hoạt động học (chức năng lĩnh hội và tự điều khiển) và hoạt động dạy (chức năng truyền đạt và điều khiển sư phạm).

Để giải quyết các nhiệm vụ đề ra, tác giả sử dụng phối hợp bốn phương pháp nghiên cứu thực tế:

  1. Phương pháp tổng hợp tài liệu: Nghiên cứu, phân tích các tài liệu lý luận dạy học, văn kiện của Đảng và Nhà nước, sách giáo khoa, sách giáo viên, kỷ yếu các hội thảo chuyên đề về đổi mới phương pháp bộ môn Địa lí.
  2. Phương pháp điều tra phỏng vấn: Thăm dò ý kiến cán bộ quản lý, giáo viên bộ môn và học sinh tại các trường phổ thông nhằm thu thập dữ liệu thực tế về nhận thức, thái độ học tập và mức độ sử dụng phương tiện trực quan.
  3. Phương pháp phân tích bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu thống kê, tranh ảnh: Phân tích đặc trưng ngôn ngữ biểu đạt của từng loại kênh hình để xây dựng các thao tác tư duy và hệ thống câu hỏi dẫn dắt tương ứng.
  4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Vận dụng hệ thống giáo án thiết kế mới vào các tiết giảng dạy thực tế trong quá trình kiến tập và thực tập sư phạm tại các trường THPT để kiểm nghiệm hiệu quả.

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm sách giáo khoa Địa lí 12 cải cách giáo dục, Atlat Địa lí Việt Nam, bản đồ treo tường giáo khoa do Bộ Giáo dục và Đào tạo ấn hành, các bảng số liệu thống kê dân số - kinh tế giai đoạn 1901 - 1995 cùng tư liệu quan sát sư phạm trực tiếp tại các trường THPT Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Thái Bình và Thủ Thiêm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương một: Cơ sở lí luận

Nội dung chương một hệ thống hóa các vấn đề cơ bản của lý luận dạy học địa lí và vai trò của kênh hình trong đổi mới giáo dục:

1. Các nguyên tắc dạy học trong giảng dạy Địa lí: Tác giả phân tích chi tiết bốn nguyên tắc chỉ đạo. Tính khoa học đòi hỏi bài giảng phản ánh đúng thực tế khách quan, chỉ rõ mối quan hệ nhân quả và tránh liệt kê cơ học. Tính vừa sức đòi hỏi dung lượng kiến thức phù hợp trình độ nhận thức. Tính hệ thống và liên hệ thực tiễn nhấn mạnh việc gắn kiến thức sách vở với đời sống địa phương thông qua hai chiều: đưa thực tiễn bổ sung bài học và tập cho học sinh vận dụng tri thức vào cuộc sống. Tính giáo dục gắn nội dung khoa học với việc bồi dưỡng thế giới quan, lòng yêu quê hương đất nước. Tính tự lực và phát triển tư duy yêu cầu giáo viên giữ vai trò chủ đạo, tổ chức cho học sinh tự giác chiếm lĩnh tri thức.

2. Một số phương pháp dạy học Địa lí trong nhà trường trung học phổ thông: Tác giả phân tích ưu điểm và hạn chế của nhóm phương pháp dùng lời truyền thống (diễn giảng, giảng thuật, giảng giải, đàm thoại, dạy học nêu vấn đề). Dù phương pháp dùng lời truyền tải khối lượng kiến thức lớn trong thời gian ngắn, song nếu lạm dụng sẽ triệt tiêu tính chủ động và không rèn luyện được kỹ năng cho học sinh. Tác giả khẳng định phương tiện trực quan truyền thống có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành biểu tượng địa lý không gian đối với những sự vật mà học sinh không thể quan sát trực tiếp ngoài tự nhiên.

3. Các phương pháp dạy học Địa lí liên quan đến kênh hình: Khái quát chủ trương đổi mới phương pháp lấy học sinh làm trung tâm, nhấn mạnh công văn 8326/THPT về giảm tải thuyết giảng lý thuyết và tăng cường khai thác kênh hình. Kênh hình được xác lập với hai chức năng: minh họa và làm nguồn tri thức, trong đó chức năng làm nguồn tri thức giữ vai trò then chốt để rèn luyện kỹ năng nhận xét, phân tích, tổng hợp.

4. Sách giáo khoa Địa lí, khái quát hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí 12: Tác giả nêu sáu đặc điểm chuẩn mực của kênh hình sách giáo khoa (tính chuẩn xác khoa học, tính nhất quán ký hiệu, tính thẩm mỹ, tính tập trung đối tượng, sự phối hợp hữu cơ với kênh chữ và cách trình bày trực quan). Qua kiểm kê toàn bộ cuốn sách Địa lí 12, tác giả lập danh mục thống kê cấu trúc kênh hình như sau:

Thể loại kênh hình trong SGK Địa lí 12 Số lượng ghi nhận
Lược đồ 14
Biểu đồ 08
Sơ đồ 03
Bảng số liệu thống kê 13

Đồng thời, tác giả chỉ ra các điểm tồn tại của sách giáo khoa Địa lí 12 hiện hành:

  • Tên gọi chương trình "Những vấn đề kinh tế - xã hội Việt Nam" quá rộng so với dung lượng 25 bài, tác giả kiến nghị đổi thành "Một số vấn đề về địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam".
  • Phần nguyên nhân kinh tế - xã hội trong bài mở đầu và bài 7 mới chỉ đề cập nguyên nhân khách quan (chiến tranh, xuất phát điểm thấp), chưa chỉ rõ nguyên nhân chủ quan như tinh thần văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI.
  • Thiếu các lược đồ then chốt như lược đồ vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên Việt Nam; thiếu lược đồ khái quát khu vực Đông Nam Á ở chương IV.
  • Lược đồ phân bố dân cư Việt Nam năm 1989 (trang 14) vẽ sai hệ thống sông Mê Kông; lược đồ vùng chuyên canh cây công nghiệp có ký hiệu quá nhỏ, khó nhận diện; phần lớn lược đồ thiếu tên địa danh khiến học sinh mơ hồ về vị trí không gian.

Chương hai: Tình hình sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí ở các trường trung học phổ thông hiện nay

Chương hai phản ánh kết quả khảo sát thực tế giảng dạy tại TP. Hồ Chí Minh:

  • Môn Địa lí vẫn bị xã hội, phụ huynh và học sinh xem là "môn phụ", dẫn tới tâm lý học đối phó, thiếu đầu tư suy nghĩ sáng tạo.
  • Tại các trường THPT Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Thái Bình và THPT Thủ Thiêm, đa số giáo viên vẫn bám vào lối truyền thụ truyền thống: thầy đọc, trò ghi chép, về nhà học thuộc và trả bài theo lối tái hiện trí nhớ. Một số giáo viên đã bắt đầu đặt câu hỏi phát vấn nhưng còn mang tính hình thức, chưa kích thích học sinh tư duy bản chất.
  • Tình trạng "dạy chay" không bản đồ vẫn diễn ra. Khi kiểm tra bài cũ bằng câu hỏi phối hợp kênh chữ và kênh hình, đại đa số học sinh lúng túng hoặc trả lời sai trọng tâm.
  • Việc sử dụng tập Atlat Địa lí Việt Nam trong nhà trường chưa được phổ biến, nhiều học sinh chưa từng sở hữu hoặc chưa biết cách khai thác Atlat.
  • Điểm tích cực: Một số giáo viên tâm huyết đã chủ động sưu tầm thêm tranh ảnh, biểu đồ từ báo chí và tư liệu bên ngoài để bù đắp sự thiếu hụt kênh hình của sách giáo khoa, bước đầu áp dụng phương pháp đàm thoại gợi mở kết hợp hướng dẫn phân tích số liệu.

Chương ba: Phương pháp khai thác tri thức từ kênh hình trong giảng dạy Địa lí

Chương ba là trọng tâm về mặt phương pháp của khóa luận, đề xuất quy trình sư phạm cụ thể cho từng thể loại:

1. Phương pháp khai thác tri thức từ lược đồ sách giáo khoa: Lược đồ SGK có ưu thế là bám sát bài học, lược bớt các chi tiết rườm rà, tạo độ thoáng giúp học sinh dễ tri giác. Tác giả dẫn chứng phương pháp hướng dẫn học sinh đọc lược đồ phân bố dân cư năm 1989 (trang 14) trong bài "Dân cư và nguồn lao động", hoặc quan sát lược đồ hình 8 (trang 25) để nhận xét trình độ học vấn giữa các vùng miền qua tỷ lệ dân số biết đọc, biết viết.

2. Phương pháp khai thác tri thức từ bản đồ treo tường: Tác giả xây dựng quy trình khai thác gồm 3 bước logic:

  • Bước 1: Nhận biết các ký hiệu của bản đồ: Hướng dẫn học sinh giải mã hệ thống ký hiệu (luyện kim, than đá, dầu khí, sắt, thiếc, các trung tâm công nghiệp...).
  • Bước 2: Hướng dẫn học sinh đọc và nhận xét bản đồ: Đặt hệ thống câu hỏi định hướng không gian (cơ sở công nghiệp phân bố ở đâu, gồm những khu vực nào, có các ngành gì).
  • Bước 3: Hướng dẫn học sinh so sánh và phân tích bản đồ: Hướng dẫn liên kết các khái niệm để tìm ra mối quan hệ nhân quả (giải thích tại sao công nghiệp lại phân bố tập trung theo quy luật đó).

3. Phương pháp khai thác tri thức từ biểu đồ: Phân loại các dạng biểu đồ thường gặp (biểu đồ đường, biểu đồ cột, biểu đồ diện tích dạng tròn, vuông, tam giác) và phân loại theo nội dung (tự nhiên, dân số, kinh tế). Tác giả phân tích dữ liệu bảng gia tăng dân số Việt Nam để hướng dẫn học sinh lập và đọc biểu đồ cột:

Năm Dân số (triệu người)
1901 13,0
1965 27,5
1981 54,9
1989 64,4
1995 73,9

Đồng thời, tác giả hướng dẫn phân tích biểu đồ tròn cơ cấu tổng sản phẩm xã hội năm 1990: Nông - lâm nghiệp chiếm 40,8%, Công nghiệp - xây dựng chiếm 22,7%, Vận tải - thương nghiệp và các ngành khác chiếm phần còn lại.

4. Phương pháp khai thác tri thức từ tranh ảnh: Thiết lập trình tự 3 bước:

  • Nêu tên của bức tranh;
  • Chỉ ra các đặc điểm, thuộc tính của đối tượng địa lí thể hiện trên tranh;
  • Khái quát thành biểu tượng và khái niệm địa lí hoàn chỉnh thông qua sự hỗ trợ của giáo viên.

5. Phương pháp khai thác tri thức từ Atlat Địa lí Việt Nam: Đón đầu định hướng cho phép học sinh sử dụng Atlat trong kỳ thi tốt nghiệp (theo thông tin từ hội thảo ngày 18/4/2000). Tác giả đề xuất kỹ thuật hướng dẫn:

  • Nắm chắc các ký hiệu chung ở trang bìa;
  • Nắm vững ký hiệu chuyên ngành (khoáng sản ở trang 4, khí hậu và đất đai ở trang 6);
  • Tái hiện kiến thức lý thuyết tương ứng;
  • Khai thác bản đồ từng ngành (biểu đồ sản lượng lúa trang 11, chăn nuôi trang 11, công nghiệp trang 14);
  • Phân nhóm câu hỏi khai thác: Nhóm câu hỏi đơn bản đồ (dùng bản đồ địa chất trang 4 hoặc dân cư trang 9); Nhóm câu hỏi đa bản đồ để đánh giá tổng hợp thế mạnh ngành hoặc vùng (ví dụ đánh giá tiềm năng Tây Nguyên phối hợp các trang 4, 5, 6, 8, 9, 10 và 19; đánh giá vùng Đồng bằng sông Cửu Long phối hợp trang 6 và trang 8).

6. Phương pháp kết hợp các thể loại kênh hình trong soạn giảng: Trong khâu soạn bài, giáo viên phải thực hiện đủ 3 nội dung: phân tích đánh giá bản đồ, chọn lọc nội dung và xác định phương hướng truyền thụ. Trong giờ lên lớp, phối hợp nhịp nhàng giữa bản đồ treo tường (cuốn sách giáo khoa thứ hai), lược đồ SGK, Atlat và sơ đồ bảng để phát huy tối đa tư duy học sinh.

7. Ý nghĩa của việc phát triển tư duy học sinh thông qua kênh hình: Kênh hình giúp giảm tải áp lực ghi nhớ máy móc, kích thích tư duy không gian và khả năng liên hệ tổng hợp, rèn luyện kỹ năng xử lý thông tin địa lí - một phẩm chất then chốt trong thời đại thông tin.

Chương bốn: Biên soạn một số giáo án cụ thể theo hướng khai thác tri thức từ kênh hình

Chương bốn thể hiện sự cụ thể hóa phương pháp vào hai thiết kế bài dạy:

1. Giáo án Bài 19: "Đồng bằng sông Cửu Long - Vấn đề lương thực và cải tạo tự nhiên":

  • Mục tiêu kiến thức: Nắm vững diện tích vùng gần 4 triệu ha (chiếm 12% diện tích toàn quốc), dân số 14,2 triệu người.
  • Khai thác kênh hình: Dùng bản đồ Tự nhiên Việt Nam và lược đồ các loại đất chính ở Đồng bằng sông Cửu Long (SGK trang 67), kết hợp trang 6 và trang 8 Atlat.
  • Hoạt động dạy học: Dẫn dắt học sinh nhận biết ba bộ phận lãnh thổ (Thượng châu thổ, Hạ châu thổ, Vùng rìa ven biển); phân tích thuận lợi về đất phù sa, khí hậu cận xích đạo, mạng lưới kênh rạch chằng chịt; nhận diện khó khăn do đất phèn, đất mặn chiếm diện tích lớn, mùa khô thiếu nước ngọt; rút ra biện pháp cải tạo thủy lợi thau chua rửa mặn, bố trí cơ cấu mùa vụ và giống lúa chịu mặn.

2. Giáo án Bài 3: "Dân cư và nguồn lao động":

  • Mục tiêu kiến thức: Dân số nước ta đứng thứ 2 khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 13 thế giới; quy mô dân số đông, gia tăng nhanh, cơ cấu trẻ; toàn quốc có 54 thành phần dân tộc.
  • Số liệu cơ cấu độ tuổi: Dưới độ tuổi lao động chiếm 41,2%; Trong độ tuổi lao động chiếm 50,5%; Ngoài độ tuổi lao động chiếm 8,3%.
  • Khai thác kênh hình: Yêu cầu học sinh quan sát biểu đồ gia tăng dân số (SGK trang 11) và bảng số liệu phân bố (SGK trang 13) để tự rút ra nhận xét về sức ép dân số đối với giải quyết việc làm, nâng cao mức sống và bảo vệ tài nguyên môi trường.

Chương năm: Thực nghiệm sư phạm ở trường trung học

Theo danh mục mục lục của khóa luận, nội dung chương năm được dành cho việc triển khai thực nghiệm sư phạm các phương án bài học đã biên soạn tại các trường phổ thông (Trường Cấp II-III Thủ Thiêm và Trường THPT Nguyễn Thái Bình) nhằm thu thập dữ liệu phản hồi từ thực tế giảng dạy, đối chiếu kết quả nhận thức của học sinh giữa lớp thực nghiệm có sử dụng phương pháp khai thác tri thức từ kênh hình và lớp đối chứng dạy theo lối truyền thống.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể gắn liền với hệ thống tư liệu và dữ kiện thực tế:

  • Tổng kiểm kê và phân loại chính xác toàn bộ 38 đơn vị kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí 12 cải cách giáo dục, bao gồm 14 lược đồ, 8 biểu đồ, 3 sơ đồ và 13 bảng số liệu thống kê.
  • Xây dựng thành công quy trình thao tác sư phạm rõ ràng cho từng loại kênh hình: quy trình đọc bản đồ treo tường 3 bước (nhận biết ký hiệu - đọc nhận xét không gian - phân tích quan hệ nhân quả); quy trình 3 bước khai thác tranh ảnh; kỹ thuật đọc Atlat phân hóa theo câu hỏi đơn bản đồ và câu hỏi tổng hợp liên trang (như phân tích thế mạnh Tây Nguyên kết hợp các trang 4, 5, 6, 8, 9, 10, 19).
  • Tác giả đóng góp những phát hiện học thuật thẳng thắn về hạn chế của sách giáo khoa Địa lí 12 đương thời: chỉ rõ lỗi kỹ thuật vẽ sai hệ thống dòng chảy sông Mê Kông trên lược đồ phân bố dân cư năm 1989 (trang 14); phát hiện hạn chế của lược đồ vùng chuyên canh cây công nghiệp khi dùng ký hiệu quá nhỏ; kiến nghị bổ sung lược đồ tự nhiên Việt Nam và lược đồ các nước Đông Nam Á vốn bị khuyết thiếu.
  • So với các tài liệu nghiên cứu chung về phương pháp dạy học trước đó, khóa luận không dừng lại ở lý thuyết tổng quát mà đi sâu chuyển hóa các nguyên tắc dạy học tích cực thành hệ thống câu hỏi - bài tập cụ thể trên từng trang sách giáo khoa và từng trang Atlat của chương trình lớp 12.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên tự đánh giá của tác giả trong văn bản:

  • Đề tài được thực hiện bởi sinh viên tốt nghiệp nên kinh nghiệm giáo học pháp và vốn sống thực tiễn còn khiêm tốn; thời gian tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm sư phạm còn hạn hẹp.
  • Khóa luận mới chỉ giới hạn nghiên cứu trong phạm vi sách giáo khoa Địa lí lớp 12 ban cải cách giáo dục, chưa mở rộng nghiên cứu đối chiếu liên thông với toàn bộ chương trình Địa lí cấp THPT (lớp 10 và lớp 11).
  • Về mặt phương tiện, đề tài chỉ tập trung khảo sát các loại hình trực quan truyền thống trên chất liệu giấy in và bảng treo; văn bản chưa có điều kiện đề cập tới các loại kênh hình hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin hoặc phương tiện trình chiếu kỹ thuật số trong dạy học địa lý.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng thiết thực cho:

  • Sinh viên ngành Sư phạm Địa lí tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm tham khảo phương pháp luận thiết kế bài dạy và kỹ năng khai thác phương tiện trực quan khi chuẩn bị thực tập sư phạm.
  • Giáo viên Địa lí các trường THPT có thể khai thác trực tiếp quy trình 3 bước phân tích bản đồ, quy trình giải mã Atlat đa bản đồ và hệ thống câu hỏi định hướng trong hai giáo án mẫu (bài 3 và bài 19) để áp dụng vào các tiết lên lớp thực tế.
  • Các nhà nghiên cứu giáo học pháp và biên soạn sách giáo khoa Địa lí tham khảo các kiến nghị xác đáng về kích thước ký hiệu, tính chính xác của địa danh và sự phối hợp giữa kênh chữ với kênh hình.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo kiểm kê của tác giả, sách giáo khoa Địa lí 12 chương trình cải cách có bao nhiêu đơn vị kênh hình và gồm những loại nào? Sách giáo khoa Địa lí 12 có tổng cộng 38 đơn vị kênh hình, gồm 14 lược đồ, 8 biểu đồ, 3 sơ đồ và 13 bảng số liệu thống kê.

2. Tác giả phát hiện những thiếu sót cụ thể nào về mặt khoa học và sư phạm trên các lược đồ trong sách giáo khoa Địa lí 12? Tác giả chỉ rõ lược đồ phân bố dân cư Việt Nam năm 1989 (trang 14) đã vẽ sai hệ thống sông Mê Kông; lược đồ vùng chuyên canh cây công nghiệp sử dụng ký hiệu trực quan quá nhỏ khó phân biệt; thiếu hẳn lược đồ vị trí tự nhiên Việt Nam và lược đồ các nước Đông Nam Á; phần lớn các lược đồ thiếu ghi chú địa danh làm học sinh dễ mơ hồ về không gian.

3. Quy trình 3 bước khai thác tri thức từ bản đồ treo tường trên lớp được tác giả xây dựng như thế nào? Quy trình gồm 3 bước logic: Bước 1 - Nhận biết các ký hiệu của bản đồ ("ngôn ngữ" bản đồ); Bước 2 - Hướng dẫn học sinh đọc và nhận xét bản đồ để nắm bắt sự phân bố không gian; Bước 3 - Hướng dẫn học sinh so sánh và phân tích bản đồ để tìm ra các mối quan hệ nhân quả.

4. Khi hướng dẫn học sinh đánh giá thế mạnh tổng hợp của vùng Tây Nguyên qua Atlat Địa lí Việt Nam, tác giả chỉ định kết hợp những trang bản đồ cụ thể nào? Tác giả chỉ định phối hợp 7 trang Atlat: trang 10 (xác định vị trí và diện tích rừng), trang 6 và trang 8 (đất đai, các cao nguyên), trang 5 và trang 8 (đặc điểm khí hậu), trang 4 (khoáng sản), trang 9 (dân số, mật độ dân cư) và trang 19 (cơ sở hạ tầng kỹ thuật).

5. Trong giáo án Bài 3 "Dân cư và nguồn lao động", tác giả đã trích dẫn các số liệu nào về cơ cấu và vị thế dân số Việt Nam? Dân số Việt Nam đứng thứ 2 khu vực Đông Nam Á và thứ 13 trên thế giới; có 54 dân tộc; cơ cấu theo độ tuổi gồm: dưới độ tuổi lao động chiếm 41,2%, trong độ tuổi lao động chiếm 50,5%, và ngoài độ tuổi lao động chiếm 8,3%.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Nguyên Ngọc Phương đã giải quyết một cách toàn diện vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy Địa lí 12 theo định hướng phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh thông qua hệ thống kênh hình. Công trình xác lập cơ sở lý luận vững chắc, chỉ ra thực trạng "dạy chay" tại các trường phổ thông TP. Hồ Chí Minh đương thời và xây dựng hệ thống quy trình thao tác sư phạm chuẩn xác cho từng loại hình trực quan. Đây là một nghiên cứu thực nghiệm sư phạm nghiêm túc, vừa có giá trị đóng góp về mặt phương pháp dạy học bộ môn, vừa cung cấp tài liệu tham khảo cụ thể, hữu ích cho giáo viên và sinh viên ngành Sư phạm Địa lí.