Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn kĩ năng sống trong dạy học thơ trữ tình hiện đại Việt Nam cấp THCS. Chương 2: Biện pháp rèn kĩ năng sống trong dạy học thơ trữ tình hiện đại Việt Nam trong nhà trường THCS. Chương 3: Dạy học thực nghiệm. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP RÈN KĨ NĂNG SỐNG TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH HIỆN ĐẠI VIỆT NAM Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Kĩ năng Theo Từ điển Tiếng Việt, kĩ năng là “khả năng vận dụng những kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó áp dụng vào thực tế” [35, tr. Ta biết rằng, giữa nhận thức và hành động không phải lúc nào cũng đồng nhất với nhau. Bởi có nhiều điều ta biết, ta hiểu mà ta không thực hiện được. Vì vậy, dù được trang bị một hệ thống tri thức đầy đủ nhưng nếu ta chưa có kĩ năng để vận dụng một cách linh hoạt vốn kiến thức đã có thì không đảm bảo được ta có làm việc hiệu quả, có thể đưa ra những quyết định hợp lí, giao tiếp phù hợp và đi đến thành công hay không.
Như vậy, kĩ năng chính là bước đệm để ta biến tri thức thành hành động thực tiễn. Kĩ năng sống Kĩ năng sống là khái niệm được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọi đối tượng trong tất cả các lĩnh vực, các phương diện của đời sống xã hội. Có nhiều định nghĩa khác nhau về kĩ năng sống nhưng thống nhất trên nội dung cơ bản. Theo WHO (1993) “Năng lực tâm lí xã hội là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống.
Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh. Năng lực tâm lí xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần và xã hội. Kĩ năng sống là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lí xã hội này. Đó là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo UNICEF (UNICEF Thái Lan, 1995): “Giáo dục dựa trên kĩ năng sống cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ, hành vi. Các kĩ năng sống nhằm giúp chúng ta chuyển đổi kiến thức “cái chúng ta biết” và thái độ, giá trị “cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng” thành hành động thực tế “làm gì và làm cách nào”. UNESCO (2003) quan niệm: “Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Đó là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày”.
Từ các quan niệm về kĩ năng sống nêu trên, có thể thấy rằng có nhiều cách biểu đạt khái niệm kĩ năng sống với quan niệm rộng, hẹp khác nhau tùy theo cách tiếp cận vấn đề. Khái niệm kĩ năng sống được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những năng lực tâm lí xã hội. Theo nghĩa rộng, kĩ năng sống không chỉ bao gồm năng lực tâm lí xã hội mà còn bao gồm cả những kĩ năng vận động. Tóm lại, khái niệm kĩ năng sống được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở từng khu vực và từng quốc gia dẫn đến cách biểu đạt khái niệm kĩ năng sống có khác nhau (việc xác định nội hàm của khái niệm nông, sâu khác nhau dẫn đến phạm vi phản ánh của khái niệm rộng, hẹp khác nhau) nhưng điểm thống nhất trong các quan niệm về kĩ năng sống là: những kĩ năng cần có trong hành vi lành mạnh, tích cực, là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày mà đặc biệt tuổi trẻ rất cần để bước vào đời.
Do tiếp cận kĩ năng sống tương đối đa dạng nên cũng có nhiều cách phân loại kĩ năng sống. Theo tổng hợp của tác giả Nguyễn Thanh Bình, tồn tại các cách phân loại kĩ năng sống như sau: - Phân loại xuất phát từ lĩnh vực sức khỏe. Theo cách phân loại này có ba nhóm kĩ năng: Nhóm thứ nhất, là nhóm kĩ năng nhận thức bao gồm các kĩ năng cụ thể: tư duy phê phán, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, tư duy phân tích, 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khả năng sáng tạo, tự nhận thức, đặt mục tiêu, xác định giá trị…; Nhóm thứ hai là các kĩ năng đương đầu với cảm xúc, gồm các kĩ năng như: ý thức trách nhiệm, cam kết, kiềm chế sự căng thẳng, kiềm chế được cảm xúc, tự quản lí, tự giám sát, tự điều chỉnh. Nhóm cuối cùng là nhóm kĩ năng xã hội (hay kĩ năng tương tác) với các kĩ năng thành phần: giao tiếp, quyết đoán, thương thuyết, từ chối, hợp tác, sự cảm thông, chia sẻ, khả năng nhận thấy thiện cảm của người khác… - UNESCO cho rằng, cách phân loại kĩ năng sống theo ba nhóm nêu trên mới chỉ dừng ở các kĩ năng sống chung, trong khi đó còn có những kĩ năng sống thể hiện trong những vấn đề cụ thể khác nhau trong đời sống xã hội.
Vì thế, với mục đích giúp người học ứng phó với các vấn đề của cuộc sống và tự hoàn thiện mình, UNICEF phân loại kĩ năng sống theo các mối quan hệ của cá nhân với các nhóm kĩ năng sống: + Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các kĩ năng: kĩ năng tự nhận thức, lòng tự trọng, sự kiên định, đương đầu với cảm xúc, đương đầu với căng thẳng. + Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với người khác, với các kĩ năng thành phần: kĩ năng quan hệ tương tác liên nhân cách, sự cảm thông, đứng vững trước áp lực tiêu cực của bạn bè hoặc của người khác, thương lượng, giao tiếp có hiệu quả. + Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả, gồm các kĩ năng: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề. Những cách phân loại nêu trên đã đưa ra bảng danh mục các kĩ năng sống có giá trị trong nghiên cứu phát triển lí luận về kĩ năng sống và chỉ có tính chất tương đối.
Trên thực tế, các kĩ năng sống có mối quan hệ mật thiết với nhau bởi khi tham gia vào một tình huống cụ thể, con người cần phải sử dụng rất nhiều kĩ năng khác nhau. Ví dụ, khi cần quyết định một vấn đề nào đó, cá nhân phải sử dụng đồng thời những kĩ năng như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng tư duy sáng tạo và kĩ năng kiên định… Kết quả nghiên cứu về kĩ năng sống của nhiều tác giả đã khẳng định dù phân loại theo hình thức nào thì một số kĩ năng vẫn được coi là kĩ năng cốt lõi 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com như: kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đương đầu với cảm xúc, căng thẳng; kĩ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực; kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng đặt mục tiêu… Thống nhất với quan niệm này, đồng thời xem xét sự tương thích với tính chất, đặc điểm của dạy học thơ trữ tình hiện đại Việt Nam cấp THCS, chúng tôi giới hạn các kĩ năng sống được nghiên cứu trong luận văn để tích hợp trong giảng dạy thơ trữ tình hiện đại Việt Nam ở trường THCS chủ yếu là các kĩ năng về xác định giá trị (lòng tự trọng, sự cảm thông, tình yêu thương…), kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng giao tiếp, tư duy sáng tạo, lắng nghe tích cực, kĩ năng làm việc theo nhóm… 1. Giáo dục kĩ năng sống Kĩ năng sống được hình thành thông qua quá trình xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng thích hợp. Do vậy, kĩ năng sống phải được hình thành cho học sinh thông qua con đường đặc trưng - hoạt động giáo dục.
Theo UNICEF, giáo dục dựa trên kĩ năng sống cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ, hành vi. Theo TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Giáo dục kĩ năng sống là một quá trình với những hoạt động giáo dục cụ thể nhằm tổ chức, điều khiển để học sinh biết cách chuyển tải những gì mình biết ( nhận thức), những gì mình cảm nhận (thái độ) và những gì mình quan tâm (giá trị) thành những khả năng thực thụ giúp học sinh biết phải làm gì và làm như thế nào (hành vi) trong những tình huống khác nhau của cuộc sống”[26, tr. Từ nội hàm của khái niệm kĩ năng sống và quan niệm về hoạt động giáo dục, chúng tôi quan niệm: Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là giáo dục cho các em có cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng hoặc thay đổi ở các em các hành vi theo hướng tích cực phù hợp với mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học dựa trên cơ sở giúp học sinh có tri thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Vai trò của kĩ năng sống và của giáo dục kĩ năng sống 1. Vai trò của kĩ năng sống Thực tế cho thấy có khoảng cách giữa nhận thức và hành vi của con người, có nhận thức đúng chưa chắc đã có hành vi đúng. Ví dụ: nhiều người biết hút thuốc lá là có hại cho sức khỏe, có thể dẫn đến ung thư vòm họng, ung thư phổi… nhưng họ vẫn hút thuốc; có người là luật sư, công an, thẩm phán… có hiểu biết rất rõ về pháp luật những vẫn vi phạm pháp luật. Đó chính là vì họ thiếu kĩ năng sống.
Có thể nói kĩ năng sống chính là nhịp cầu giúp con người biến nhận thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh.