Tổng quan nghiên cứu

Quyền ứng cử là một trong những quyền chính trị thiêng liêng và là nền tảng cốt lõi của nền dân chủ đại diện trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, đô thị loại đặc biệt đóng góp 21,6% GDP và 27,8% tổng thu ngân sách cả nước năm 2016 với quy mô dân số trên 8,61 triệu người năm 2017, việc đảm bảo quyền ứng cử của công dân mang tính quyết định đến chất lượng đại diện bộ máy quyền lực nhà nước. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là giải quyết độ vênh giữa quy định hiến định tiến bộ với thực tiễn áp dụng cơ chế hiệp thương, cơ cấu đại biểu và quy trình tổ chức bầu cử còn nhiều rào cản kỹ thuật.

Mục tiêu cụ thể của công trình là làm rõ cơ sở lý luận, phân tích khung pháp lý hiện hành, đánh giá toàn diện thực trạng thực hiện quyền ứng cử Đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh qua 2 kỳ bầu cử liên tiếp (nhiệm kỳ 2011-2016 và 2016-2021). Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian 24 quận, huyện của thành phố trong tiến trình hoàn thiện thể chế từ Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2001 đến Hiến pháp năm 2013 và Luật Bầu cử năm 2015.

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nằm ở việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện pháp luật bầu cử, hướng tới mục tiêu gia tăng tính cạnh tranh bình đẳng, giảm bớt cơ cấu định hướng cứng nhắc, và nâng tỷ lệ người tự ứng cử đủ tiêu chuẩn tham gia danh sách chính thức đạt mức tối thiểu từ 10% đến 15% trong các cơ quan dân cử.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng chủ thuyết quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân được hiến định tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013 và lý thuyết Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đây là nền tảng xác lập bản chất dân chủ, trong đó nhà nước có nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ các quyền tự do chính trị của công dân.

Công trình tiếp thu các chuẩn mực quốc tế về bầu cử tự do và công bằng theo Tuyên bố năm 1994 của Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU) và Điều 25 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) năm 1966. Bốn khái niệm chính được chuẩn hóa gồm:

  • Quyền bầu cử chủ động (quyền giới thiệu ứng cử viên và bỏ phiếu).
  • Quyền bầu cử thụ động (quyền được cơ quan, tổ chức giới thiệu ứng cử hoặc tự mình ứng cử).
  • Chế định hiệp thương bầu cử (quy trình thỏa thuận cơ cấu, thành phần và lập danh sách người ứng cử).
  • Giới hạn quyền hiến định theo nguyên tắc chỉ luật định tại Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

Ngoài ra, nguyên tắc Hồi tỵ truyền thống cũng được đối sánh nhằm đề cao tính khách quan, chống lợi ích cục bộ trong phân bổ địa bàn ứng cử.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp năm 2013, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Chỉ thị số 51-CT/TW của Bộ Chính trị), kết hợp các báo cáo tổng kết bầu cử chính thức từ Ủy ban Bầu cử và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2011 đến 2018.

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, kết hợp các phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, thống kê mô tả, tổng hợp và so sánh luật học lịch sử đối chiếu với Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/10/1945.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 100% hồ sơ ứng cử viên Đại biểu Quốc hội (74 ứng viên khóa XIII) và đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (161 ứng viên khóa VIII), cùng dữ liệu từ 123 cuộc tiếp xúc cử tri Đại biểu Quốc hội và 189 cuộc tiếp xúc cử tri Hội đồng nhân dân với tổng số 67.606 cử tri tham gia tại 24 quận, huyện. Phương pháp chọn mẫu tổng thể toàn diện được lựa chọn nhằm phản ánh bức tranh chân thực, chính xác nhất. Lý do áp dụng kết hợp phân tích định tính quy chuẩn pháp lý và phân tích định lượng dữ liệu thực chứng là nhằm bóc tách chính xác những điểm nghẽn hành chính tại từng vòng hiệp thương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tỷ lệ người tự ứng cử lọt vào danh sách chính thức và trúng cử còn rất khiêm tốn dù nhận thức xã hội đã có bước chuyển biến. Tại Thành phố Hồ Chí Minh trong kỳ bầu cử Quốc hội khóa XIII, có 22 người tự ứng cử nhưng chỉ 4 người (chiếm 18,18%) lọt vào danh sách chính thức và duy nhất 1 người trúng cử. Dù tỷ lệ này đã tăng so với mức 6,93% của khóa XII (7/101 người lọt vào danh sách và 0 người trúng cử), con số toàn quốc ở khóa XIII cũng chỉ có 4/15 người tự ứng cử trúng cử. Đến khóa XIV, sau vòng hiệp thương thứ hai cả nước có 154 người tự ứng cử nhưng cuối cùng chỉ có 2 người trúng cử, chiếm tỷ lệ dưới 1,3% tổng số người nộp đơn tự ứng cử.

Thứ hai, tồn tại sự bất bình đẳng về xác suất trúng cử giữa các đơn vị bầu cử do kỹ thuật phân bổ số dư. Tại Thành phố Hồ Chí Minh khóa XIII, 9/10 đơn vị bầu cử có tỷ lệ 5 người ứng cử để bầu 3 đại biểu (xác suất trúng cử đạt 60%), nhưng riêng đơn vị bầu cử số 6 gồm quận Bình Thạnh và quận Phú Nhuận lại bố trí 6 người ứng cử để bầu 3 đại biểu (xác suất trúng cử giảm xuống 50%). Đối với bầu cử Hội đồng nhân dân thành phố khóa VIII, trong 32 đơn vị bầu cử có 28 đơn vị tỷ lệ 5 chọn 3, 2 đơn vị tỷ lệ 4 chọn 2, 1 đơn vị 7 chọn 4 và 1 đơn vị 6 chọn 3.

Thứ ba, quy trình lấy ý kiến cử tri nơi cư trú và công tác tại vòng hiệp thương bộc lộ khoảng cách tín nhiệm lớn. 100% ứng cử viên do cơ quan, tổ chức giới thiệu (39/39 người) đạt tỷ lệ tín nhiệm tuyệt đối 100%. Ngược lại, trong nhóm người tự ứng cử, chỉ có 2/22 người (9,09%) đạt tỷ lệ tín nhiệm 100%, 5/22 người đạt trên 50%, và có tới 14/22 người (63,64%) nhận tỷ lệ tín nhiệm dưới 50%.

Thứ tư, cơ cấu thành phần trúng cử có trình độ học vấn rất cao nhưng tỷ lệ đại biểu ngoài Đảng còn thấp. Tại Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khóa VIII, có 92/95 đại biểu trúng cử (chiếm 96,84%) đạt trình độ đại học và sau đại học, nữ giới chiếm 22,11% (21 người), nhưng đại biểu ngoài Đảng chỉ chiếm 10,53% (10 người).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên bắt nguồn từ việc xác định cơ cấu định hướng quá chặt chẽ ngay từ hội nghị hiệp thương lần thứ nhất, dẫn đến ưu tiên mặc định cho khối cơ quan, tổ chức nhà nước. Người tự ứng cử không có tổ chức hậu thuẫn phía sau nên chịu nhiều bất lợi khi qua các vòng thẩm định hành chính. Thêm vào đó, tâm lý cử tri vẫn còn dè dặt trước các ứng viên độc lập.

So sánh với các nghiên cứu lập hiến quốc tế và tinh thần Sắc lệnh số 51/SL năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bầu cử tự do, việc sàng lọc nhân sự cần dựa trên năng lực thực chất thay vì sắp đặt nhân sự định sẵn. Để trực quan hóa, toàn bộ dữ liệu này có thể được trình bày qua biểu đồ cột kép so sánh tỷ lệ tín nhiệm giữa người tự ứng cử và người được giới thiệu qua 3 lần hiệp thương, kết hợp bảng ma trận phân tích xác suất trúng cử theo cơ số ứng viên tại từng đơn vị bầu cử trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp luật về tiêu chuẩn ứng cử và đảm bảo nguyên tắc hiến định. Sửa đổi Điều 37 Luật Bầu cử năm 2015 để bãi bỏ quy định cấm ứng cử đối với người đang bị khởi tố bị can nhằm tuân thủ triệt để nguyên tắc suy đoán vô tội tại Điều 31 Hiến pháp năm 2013. Đồng thời, minh bạch hóa quy trình xác minh kê khai tài sản từ 50 triệu đồng trở lên. Mục tiêu giải quyết 100% khiếu nại về tư cách ứng viên công khai, thực hiện trong giai đoạn 2026-2028 bởi Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Thứ hai, cải cách quy trình hiệp thương của Mặt trận Tổ quốc và giảm tỷ lệ cơ cấu định hướng. Chuyển đổi mạnh mẽ từ cơ cấu cứng sang cơ cấu mở, tạo điều kiện để tỷ lệ người tự ứng cử đủ tiêu chuẩn lọt vào danh sách chính thức đạt tối thiểu 10% đến 15% ở cả cấp Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Áp dụng ngay từ kỳ bầu cử nhiệm kỳ 2026-2031, chủ trì bởi Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp Hội đồng Bầu cử Quốc gia.

Thứ ba, chuẩn hóa kỹ thuật phân bổ đơn vị bầu cử và mở rộng vận động tranh cử. Quy định thống nhất tỷ lệ cạnh tranh tại 100% đơn vị bầu cử, xóa bỏ hoàn toàn chênh lệch xác suất trúng cử (cố định tỷ lệ 5 chọn 3 hoặc 4 chọn 2). Đa dạng hóa các kênh vận động bầu cử qua truyền thông số bình đẳng trước thời điểm bỏ phiếu 24 giờ. Thực hiện hoàn thành trong năm 2026 bởi Ủy ban Bầu cử các cấp.

Thứ tư, nghiên cứu xây dựng cơ chế thực hiện quyền bầu cử và ứng cử cho kiều bào. Ban hành quy chế tổ chức các điểm bỏ phiếu tại cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài nhằm bảo đảm quyền chính trị cho khoảng 4,5 triệu người Việt Nam định cư tại nước ngoài. Triển khai lộ trình thí điểm từ năm 2026 đến năm 2030, do Bộ Ngoại giao phối hợp Bộ Nội vụ và Ủy ban Pháp luật của Quốc hội thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Bao gồm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Ban Công tác Đại biểu, Bộ Nội vụ và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp. Luận văn cung cấp bằng chứng thực tiễn từ hơn 300 cuộc tiếp xúc cử tri tại Thành phố Hồ Chí Minh để phục vụ việc rà soát, sửa đổi Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ.

Nhóm nghiên cứu, giảng viên và học viên học thuật: Các chuyên gia ngành Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Xây dựng Đảng và Khoa học Chính trị. Công trình cung cấp khung lý luận chuẩn xác về quyền bầu cử chủ động, thụ động và tài liệu tham khảo giá trị cho các giáo trình, đề tài nghiên cứu cấp bộ, luận án tiến sĩ.

Nhóm ứng cử viên tiềm năng và công dân có nguyện vọng tự ứng cử: Luận văn hệ thống hóa chi tiết quy trình pháp lý 3 lần hiệp thương, các yêu cầu minh bạch tài sản từ 50 triệu đồng và kỹ năng xây dựng chương trình hành động để tiếp xúc cử tri hiệu quả.

Nhóm tổ chức chính trị - xã hội, hiệp hội nghề nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp: Giúp các tổ chức nắm vững cơ chế phân bổ cơ cấu đại biểu để giới thiệu những gương mặt ưu tú, góp phần tăng tỷ lệ đại biểu khối doanh nghiệp và đại biểu ngoài Đảng (vốn chỉ đạt 10,53% tại Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khóa VIII).

Câu hỏi thường gặp

Công dân cần đáp ứng những điều kiện cơ bản nào để thực hiện quyền ứng cử? Theo Điều 27 Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 Luật Bầu cử năm 2015, mọi công dân từ đủ 21 tuổi trở lên, trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và không thuộc các trường hợp bị cấm tại Điều 37 Luật Bầu cử (như đang chấp hành án tù, mất năng lực hành vi dân sự) đều có quyền ứng cử.

Sự khác biệt căn bản giữa người tự ứng cử và người được tổ chức giới thiệu là gì? Người được tổ chức giới thiệu phải qua hội nghị hiệp thương lần thứ nhất tại đơn vị công tác, còn người tự ứng cử nộp hồ sơ trực tiếp tại Ủy ban bầu cử cấp tỉnh và tham gia từ hiệp thương lần hai. Tại Thành phố Hồ Chí Minh khóa XIII, có 22 hồ sơ tự ứng cử tham gia hiệp thương lần hai cùng 41 hồ sơ được cơ quan giới thiệu.

Vì sao quy định cấm người bị khởi tố bị can ứng cử lại gây tranh luận học thuật? Quy định tại Điều 37 Luật Bầu cử năm 2015 chưa thực sự tương thích với nguyên tắc suy đoán vô tội tại khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013. Về mặt pháp lý, người bị buộc tội chỉ bị coi là có tội khi đã có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật từ tòa án.

Quy định kê khai tài sản đối với người ứng cử đại biểu dân cử được thực hiện như thế nào? Người ứng cử phải kê khai minh bạch nhà đất, tài khoản nước ngoài, kim khí quý, đá quý, cổ phiếu có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên của bản thân, vợ chồng và con chưa thành niên. Trường hợp không trung thực về quốc tịch nước ngoài tại khóa XIV đã bị Hội đồng bầu cử quốc gia hủy tư cách đại biểu.

Thực tế tỷ lệ đại biểu ngoài Đảng và người tự ứng cử trúng cử tại Thành phố Hồ Chí Minh ra sao? Tại Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khóa VIII, tỷ lệ người ngoài Đảng trúng cử đạt 10,53% (10/95 người) và có 92 người có trình độ đại học trở lên. Ở cấp Quốc hội khóa XIII, thành phố có 1 đại biểu tự ứng cử trúng cử trong tổng số 30 đại biểu được bầu.

Kết luận

  • Quyền ứng cử là quyền chính trị nền tảng, khẳng định nguyên lý hiến định toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân theo Điều 2 Hiến pháp năm 2013.
  • Thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh với quy mô trên 8,61 triệu dân phản ánh sâu sắc tính năng động đô thị nhưng cũng chỉ rõ những rào cản kỹ thuật qua 3 vòng hiệp thương bầu cử.
  • Hệ thống dữ liệu thực chứng qua 2 kỳ bầu cử làm rõ độ vênh giữa quy chuẩn pháp luật và tỷ lệ trúng cử của người tự ứng cử trên cả nước (đạt dưới 2% ở khóa XIV).
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá gồm sửa đổi luật thực định, chuẩn hóa xác suất trúng cử tại 100% đơn vị bầu cử, mở rộng kênh vận động và bảo đảm tính bình đẳng, minh bạch.
  • Mở ra hướng nghiên cứu mới về quyền bầu cử của kiều bào và cơ chế tài phán bảo hiến nhằm bảo vệ quyền chính trị của công dân.

Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Phạm Thị Diệu Hiền là công trình nghiên cứu công phu, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc phục vụ lộ trình đổi mới thể chế bầu cử giai đoạn 2026-2030. Các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và cử tri quan tâm hãy tham khảo ngay tài liệu chuyên sâu này để chung tay thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng dân chủ và vững mạnh.