CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ QUYỀN LỢI CỦA CÔNG NHÂN TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ VIỆT NAM 1. Hệ thống khái niệm liên quan đến đề tài 1. Công nhân, Giai cấp công nhân lao động Giai cấp công nhân trong xã hội tư bản chủ nghĩa hay còn được gọi là giai cấp vô sản. Trong tác phẩm Những nguyên lí của chủ nghĩa cộng sản, Ph.
Ăngghen định nghĩa: “Giai cấp vô sản là một giai cấp hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán laa động của mình, chứ không phải sông bằng lợi nhuận của bất cứ tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết toàn bộ sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào số cầu về lao động, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn nổi ” [36, tr. Tuy vậy, không chính xác khi gọi giai cấp vô sản là giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân là giai cấp vô sản có trình độ lao động công nghiệp cao, là đứa con của nền đại công nghiệp hiện đại. “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy – đó là sứ mệnh của giai cấp vô sản hiện đại” [36, tr.
Trong giai đoạn hiện nay, giai cấp công nhân đã có những biến đổi mới: “Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền công nghiệp hiện đại,với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính xã hội hóa ngày càng cao, là lực lượng sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người không có hoặc cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước xã hội chủ nghĩa, họ là người cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu snar xuất và cùng 17 c nhau hợp tác lao động vì lợi ích chung của xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của bản thân họ” [5, tr. Ở Việt Nam, hiện có nhiều định nghĩa khác nhau về giai cấp công nhân: Công trình Đổi mới chính sách xã hội đối với công nhân và thợ thủ công của Trung tâm nghiên cứu thông tin lý luận Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam định nghĩa: “Giai cấp công nhân Việt Nam là một tập đoàn xã hội những người lao động ở Việt Nam, có thu nhập chủ yếu bằng lao động làm công ăn lương, sống và làm việc gắn với sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, công nghiệp. Do nắm những cơ sở vật chất kỹ thuật then chốt và đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến trong xã hội nên giai cấp công nhân tất yếu có vai trò đi tiên phong trong tiến trình phát triển của lịch sử hiện đại” [10, tr.
Tác giả Bùi Đình Bôn trong tác phẩm Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay – mấy vấn đề lý luận và thực tiễn đã dịnh nghĩa về giai cấp công nhân như sau: “Giai cấp công nhân hiện đại là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với cách mạng công nghiệp, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến trong các quá trình công nghệ, dịch vụ công nghiệp, trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và tạ ra các quan hệ xã hội, động lực chính của tiến trình lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội” [9, tr. Văn kiện Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành Trung ương (khóa X) về Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước đã đưa ra khái niệm về giai cấp công nhân như sau: “Giai cấp công nhân Việt nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp” [41, tr. Theo Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Công nhân là người lao động 18 c (thường là lao động chân tay) làm việc dựa vào sự thu nạp nhân công của chủ tư liệu sản xuất công nghiệp hoặc của nhà nước, còn bản thân họ không chiếm hữu tư liệu sản xuất” [43, tr. Trên cơ sở định nghĩa về giai cấp công nhân hiện đại như đã nêu ở trên, chúng tôi đưa ra khái niệm giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay như sau: Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển cùng với sự phát triển của nền công nghiệp hiện đại, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công, hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp, trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất; là giai cấp có xứ mệnh lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, lực lượng xã hội nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Như vậy, xét về tính chất lao động, người ta thường gọi lao động mang tính chất công nghiệp là công nhân. Xét ở địa vị xã hội, người ta gọi những người lao động công nghiệp là giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân bao gồm cả những người lao động trí óc và lao động chân tay. Lao động trí óc là những người được đào tạo có trình độ cao đẳng, đại học trở nên, thường giữ các cương vị quản lí, điều khiển trong các nhà máy, xí nghiệp, thường được gọi là công nhân “áo trắng” hay công nhân “cổ cồn”.
Những người lao động chân tay trong các dây chuyền sản xuất, trực tiếp làm ra các sản phẩm công nghiệp, thường được gọi là công nhân “áo xanh” hay công nhân lao động. Quyền lợi của công nhân Quyền lợi của công nhân, một mặt, là một quyền cơ bản của nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; mặt khác, lại là quyền mang tính hạt nhân đối với quyền con người nói chung. Điều 23 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người: “Mọi người có quyền 19 c làm việc”. Điều 6 Công ước quốc tế và các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa: “Các quốc gia thành viên thừa nhận quyền làm việc, trong đó bao gồm quyền của tất cả mọi người có cơ hội kiếm sống bằng công việc mà họ tự do lựa chọn hoặc chấp thuận”.
Điều 7 Công ước đòi hỏi các quốc gia phải “công nhận quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi ”. Hiến chương xã hội Châu Âu xem quyền của người công nhân lao động là một trong những quyền cơ bản trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, cụ thể như: tự do lựa chọn việc làm, được thừa hưởng điều kiện lao động an toàn, được trả lương và tham gia bảo hiểm nhằm đảm bảo cho cuộc sống của họ và gia đình họ. Tổ chức Lao động quốc tế thông qua 181 công ước và 189 khuyến nghị chủ yếu tập trung giải quyết các vấn đề bình đẳng cơ hội việc làm và bình đẳng đối xử trong lao động. Như vậy, quyền lợi của công nhân lao động là tập hợp quyền về việc làm và các điều kiện làm việc của người công nhân lao động như: quyền được hưởng điều kiện lao động công bằng, làm việc với số giờ hợp lí, được nghỉ phép có lương hàng năm; quyền được làm việc trong môi trường an toàn, bảo đảm sức khỏe; được trả lương tương xứng với công việc; quyền đào tạo và hướng nghiệp.
Báo điện tử Tờ báo mạng Chicago là tờ báo mạng ra đời sớm nhất trên thế giới vào tháng 5/1992. Tại Việt Nam, đến năm 1997 tờ tạp chí Quê hương được xuất bản lên mạng, ghi dấu ấn của báo chí Việt Nam trên mạng internet toàn cầu và đây được coi là tờ báo mạng đầu tiên ở nước ta. Đến nay, sau 31 năm liên tục đổi mới, tiếp thu các phương tiện khoa học kỹ thuật, báo mạng điện tử đã không ngừng lớn mạnh cả về chất lượng lẫn số lượng. Theo thông tin từ Bộ Thông tin và Truyền thông, tính tới tháng 6/2017, cả nước có 982 cơ quan báo, tạp chí được cấp phép hoạt động.
Trong đó, báo in là 193 (Trung ương: 86, địa phương: 107); 639 tạp chí (Trung ương: 525, địa phương: 114); báo điện 20 c tử là 150. Như vây, báo điện tử là một loại hình báo chí ra đời muộn hơn báo in, phát thanh và truyền hình. Trước đây, khi một sự kiện xảy ra thì “Phát thanh đưa tin, truyền hình minh họa, báo in phân tích và giải thích”. Nhưng giờ đây, báo điện tử có thể đảm đương nhiệm vụ của cả phát thanh, truyền hình lẫn báo in một cách dễ dàng.
Bản thân nó mang trong mình sức mạnh của phương tiện truyền thông đại chúng truyền thống kết hợp với mạng máy tính kết nối internet nên có nhiều ưu điểm vượt trội. Cũng giống như các loại hình báo chí ra đời trước đó vẫn đang được gọi bằng nhiều tên khác nhau (báo in được gọi là báo giấy, báo viết; báo phát thanh gọi là báo nói.) loại hình báo chí này hiện nay, trên thế giới và ở Việt Nam tồn tại nhiều cách gọi khác nhau như: báo điện tử, báo trực tuyến, báo mạng, báo internet và báo mạng điện tử. Cách gọi “báo trực tuyến” khá thịnh hành trên thế giới và ở Việt Nam tên gọi này gắn liền với tên gọi của một số báo như: Tuổi trẻ Online, Tin tức Online. Còn “báo điện tử” được nhắc nhiều trong các văn bản báo chí.
Trong luận văn này, khái niệm báo điện tử được hiểu là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web và phát hành trên mạng internet, có khả năng tích hợp nhiều loại hình báo chí khác và tốc độ cung cấp thông tin nhanh, nhiều, rộng khắp nhất. Ưu thế lớn nhất của báo điện tử là khả năng tương tác, tương tác qua lại giữa tờ báo và công chúng, giữa công chúng với nhau, tạo điều kiện thuận lợi thiết lập các diễn đàn báo chí; khả năng đa phương tiện; tính thời sự với khả năng cập nhật thông tin nhanh, mới, nóng và nằm ở tâm điểm.