CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 1. Cơ sở hạ tầng giao thông thành phố Đà Nẵng 1. Vị trí địa lý của Đà Nẵng Hình 1.1 Bản đồ hành chính Đà Nẵng Đà Nẵng là một trong năm thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam, nằm tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Đây là thành phố trung tâm và lớn nhất của toàn bộ khu vực Miền Trung, đóng vai trò là hạt nhân quan trọng của Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung.
Thành phố Đà Nẵng hiện là đô thị loại 1, là thành phố trung tâm cấp vùng và cấp quốc gia. Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 128.284,88 km2); trong đó huyện đảo Hoàng Sa 30. Thành phố có 06 quận: Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu, Cẩm Lệ và 02 huyện: Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa (tổng diện tích trên đất liền: 97.2 Bản đồ vị trí thành phố Đà Nẵng ở Việt Nam Tọa độ phần đất liền của thành phố Đà Nẵng từ 15°15' đến 16°40' vĩ độ Bắc và từ 107°17' đến 108°20' kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Nam và Tây giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông.
Đà Nẵng nằm ở trung độ của đất nước, trên quốc lộ 1A và đường sắt Bắc - Nam. Trung tâm thành phố cách thủ đô Hà Nội 764km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam, cách thành phố Huế 108km về hướng Tây Bắc. Đà Nẵng nối với Tây Nguyên qua quốc lộ 14B và là cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma đến các nước và vùng lãnh thổ Đông Bắc Á thông qua hành lang kinh tế Đông - Tây. Bên cạnh đó Đà Nẵng còn có các tuyến giao thông quan trọng như đường sắt liên vận quốc tế Trung Quốc - ASEAN đi qua, cảng biển và sân bay quốc tế.
Đà Nẵng chỉ cách các trung tâm kinh tế phát triển của các nước Đông Nam Á, khu vực Thái Bình Dương trong phạm vi bán kính khoảng 2.000 km, vì thế rất thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế - văn hóa.3 Vị trí thành phố Đà Nẵng trong hành lang kinh tế Đông Tây của ASEAN Hình 1.4 Vị trí thành phố Đà Nẵng trong Châu Á – Thái Bình Dương 5 1. Khí hậu ở Đà Nẵng Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ cao và ít biến động. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,6ºC, cao nhất là tháng 6 (29,2ºC), thấp nhất là tháng 2 (21,2ºC). Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500m có nhiệt độ trung bình từ 17ºC đến 20ºC.
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 83,4%. Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.355mm, cao nhất là tháng 10 với 266mm, thấp nhất là tháng 2 với 7mm.5 Nhiệt độ không khí trung bình các tháng (ºC) Hình 1.6 Lượng mưa trung bình các tháng (mm) 6 Nhìn chung khí hậu Đà Nẵng do chịu ảnh khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có lợi về mặt nhiệt độ, chế độ nắng cao và ổn định theo hai mùa trong năm. Các lợi thế này rất thuận lợi cho việc phát triển hệ thống nông nghiệp nhiệt đới có năng suất cao, với nhiều chủng loại cây trồng, vật nuôi, tạo nên sự đa dạng trong sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Khí Hậu Đà Nẵng cũng gây ảnh hưởng đến các hoạt động giao thông vận tải, chủ yếu là đường bộ và đường thủy.
Trong giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 12, Đà Nẵng thường trải qua mùa mưa và thời tiết bão. Các cơn mưa lớn và bão có thể gây ngập lụt, làm hỏng đường sá, và làm gián đoạn hoạt động vận tải. Đặc biệt, đường sông và cầu đường dễ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Sự biến đổi khí hậu toàn cầu cũng ảnh hưởng đến Đà Nẵng.
Nước biển dâng, sụt lún đất, và thay đổi môi trường địa hình có thể làm thay đổi cấu trúc đường, cầu và cơ sở hạ tầng khác. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các phương tiện vận tải đường bộ và đường sông. Điều kiện tự nhiên thành phố Đà Nẵng Thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng vừa có núi, vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp. Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700-1.500m, độ dốc lớn (>400), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố.
Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây Bắc và tỉnh Quảng Nam. Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố. Đà Nẵng có bờ biển dài hơn 60km với nhiều bãi tắm đẹp như Non Nước, Mỹ Khê, Thanh Khê, Nam Ô có các cảnh quan thiên nhiên kỳ thú; ở khu vực quanh bán đảo Sơn Trà có những bãi san hô lớn, thuận lợi trong việc phát triển các loại hình kinh doanh, dịch vụ, du lịch biển. Ngoài tài nguyên rừng và biển, Đà Nẵng còn có nhiều tài nguyên khác như khoáng sản, đất, nước,…đa dạng, phong phú.
Với lợi thế về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, Đà Nẵng là một thành phố có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, là trung tâm du lịch lớn của cả nước. Trải qua quá 7 trình phát triển vượt trội, học tập phương thức xây dựng thành phố hiện đại của châu Âu, Đà Nẵng dần vươn lên trở thành thành phố có chỉ số cạnh tranh phát triển cao nhất cả nước, trở thành thành phố xanh, thành phố đáng sống. Kinh tế của Đà Nẵng Kinh tế Đà Nẵng trong những năm qua đã có bước phát triển mạnh mẽ, tương đối toàn diện, trở thành một thành phố biển năng động, sáng tạo, khai thác tốt các tiềm năng, thế mạnh. Kinh tế thành phố duy trì ở mức tăng trưởng khá cao.
Tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn (GRDP, giá so sánh 2010) giai đoạn 2010-2020 ước tăng bình quân 7,75%/năm (chưa ước tính hậu quả đại dịch Covid-19), năm 2019 đạt 69.197 tỷ đồng, gấp khoảng 2 lần so với năm 2010; GRDP bình quân đầu người năm 2020 ước đạt 103 triệu đồng, gấp khoảng 2,6 lần năm 2010. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực và phù hợp hơn, ước tính khu vực dịch vụ chiếm 64,56%; khu vực công nghiệp-xây dựng chiếm 22,32% (trong đó công nghiệp là 16,57%); khu vực thủy sản – nông – lâm chiếm 1,72%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 11,39% GRDP. Đà Nẵng đã bước đầu hình thành những ngành kinh tế mũi nhọn như du lịch, dịch vụ thương mại, vận tải, logistics, tài chính, ngân hàng, công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Hạ tầng kinh tế – xã hội, diện mạo đô thị có nhiều thay đổi tích cực và tương đối hiện đại.
Tuy nhiên, quy mô kinh tế trên địa bàn Đà Nẵng còn khá khiêm tốn trong cơ cấu chung của nền kinh tế Việt Nam; tuy dẫn đầu vùng KTTĐMT, nhưng khoảng cách không lớn. GRDP của thành phố Đà Nẵng hiện chiếm 1,4% so với GDP cả nước, tuy xếp đầu ở vùng KTTĐMT nhưng chỉ xếp thứ 04 khi so sánh trong quy mô GRDP của 05 thành phố trực thuộc trung ương. Đà Nẵng không phải nền kinh tế có quy mô lớn về vốn, lao động và độ mở nền kinh tế nhưng có ưu thế về số lượng doanh nghiệp. Vốn đầu tư, lao động và độ mở của Đà Nẵng chỉ chiếm có tỷ lệ 1,7%, 0,99%, 0,85% của Việt Nam, nhưng lại chiếm vị trí đầu của vùng KTTĐMT.
Đóng góp của các yếu tố vốn chiếm 50,4% trong cơ cấu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2016-2020, trong khi đó đóng góp của lao động là 21% và TFP là 28,6%. Tỷ trọng 8 đóng góp của TFP đã có cải thiện đáng kể so với giai đoạn 2011-2015, giai đoạn 2011- 2015, cơ cấu tăng trưởng kinh tế tương ứng là 59,5%; 25,4%; và 15,1%. Trong tổng vốn thực hiện, vốn đầu tư từ nguồn NSNN còn thấp, bình quân 5 năm 2016-2020 ước khoảng 12,8% trong tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội. Giai đoạn 2016-2020, tốc độ tăng bình quân của vốn đầu tư công tích luỹ là 5,6%, đóng góp 0,46 điểm phần trăm vào tốc độ tăng GRDP.
Bình quân mỗi năm vốn đầu tư thực hiện từ nguồn NSNN tăng thêm 1% thì đóng góp khoảng 0,08 điểm phần trăm vào tốc độ tăng GRDP toàn thành phố.7 Cơ cấu GDP Đà Nẵng 1. Cơ sở hạ tầng giao thông thành phố Đà Nẵng 1. Đường bộ Thành phố Đà Nẵng kết nối với các địa phương trong nước thông qua hai đường quốc lộ: Quốc lộ 1 cùng với đường cao tốc Bắc – Nam phía Đông, nối Đà Nẵng với các tỉnh ở hai đầu Bắc, Nam và Quốc lộ 14B cùng với đường cao tốc Bắc – Nam phía Tây nối Đà Nẵng với các tỉnh miền Nam Trung Bộ và Tây Nguyên của Việt Nam. Ngoài ra, việc đưa vào sử dụng hai cao tốc tiểu vùng: Đà Nẵng - Quảng Ngãi và La Sơn - Tuý Loan sẽ giúp hệ thống giao thông Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung được kết nối và đảm bảo.
9 Đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi có chiều dài 139,2km là đường cao tốc Bắc – Nam phía Đông, trong đó đoạn qua Đà Nẵng dài 8 km, đoạn qua Quảng Nam dài 96km và đoạn qua Quảng Ngãi dài 35km; điểm đầu tuyến tại nút giao Túy Loan thuộc thôn Tuý Loan, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, Thành phố Đà Nẵng.8 Đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi Bến xe: Để phục vụ nhu cầu đi lại cao, Đà Nẵng có 2 bến xe lớn trong thành phố là Bến xe trung tâm và bến xe Đức Long ở phía Nam. • Bến xe trung tâm thành phố Đà Nẵng: có diện tích 60.000m2 tọa lạc trên trục đường Tôn Đức Thắng ở quận Liên Chiểu. Bến xe trung tâm thành phố Đà Nẵng có trên 80 tuyến xe đi tới nhiều tỉnh thành khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi du khách. • Bến xe Đức Long: ở phía Nam thành phố, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 13km.
Bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 2012, bến có công suất khai thác khoảng 800 - 1.000 lượt xe xuất bến/ngày. 10 Có 3 đường quốc lộ chính: • Quốc lộ 1A: điều chỉnh tuyến đường hiện trạng và kết hợp phần Đường hầm Hải Vân để trở thành một phần của đường cao tốc Bắc - Nam.