CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT KHẨU BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG 1. Cơ sở lý luận về giao nhận hàng hoá xuất khẩu bằng đường hàng không: 1. Giao nhận đường hàng không: 1.
Khái niệm về giao nhận hàng hóa đường hàng không: - Theo Quy tắc mẫu của FIATA về dịch vụ giao nhận thì dịch vụ giao nhận (Feight fowarding) là bất kì loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bóc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa - Giao nhận hàng hóa (theo Luật thương mại Việt Nam) là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, kho bãi, làm thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác. - Vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không (Air Cargo) là hình thức vận chuyển sử dụng phương tiện máy bay vận chuyển hàng hóa, có thể sử dụng máy bay chuyên chở hàng hóa (Cargo Aircraft hay Feighter) hoặc chuyên chở trong phần bụng máy bay dân dụng (Passenger Plane). Đặc điểm của giao nhận hàng hóa đường hàng không: - Hiện nay, khối lượng hàng hóa vận chuyển đường hàng không chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng trọng lượng hàng hóa vận chuyên quốc tế, nhưng giá trị hàng hóa chiếm 30% tổng giá trị hàng hóa lưu chuyển. - Phương thức vận chuyển đường hàng không thường phù hợp với những hàng hóa có giá trị cao, nhạy cảm với thời gian giao hàng, chẳng hạn như: + Thư tín hàng không, bưu phẩm nhanh.
+ Động vật sống, nội tạng người, hài cốt. + Hàng dễ hư hỏng (thực phẩm, hoa tươi, hàng ướp bằng đá khô). SVTH: Trương Thị Thúy Kiều 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Phương Thanh + Dược phẩm.
+ Những món đồ giá trị (vàng, kim cương). + Thiết bị kỹ thuật (hàng công nghệ cao, phụ tùng máy bay, tàu biển, xe hơi). + Hàng tiêu dùng xa xỉ (đồ điện tử, thời trang). - Vận chuyển đường hàng không cho kết quả nhanh nhất, an toàn, tuy nhiên chi phí cao.
- Để giao hàng bằng đường hàng không người xuất khẩu có thể chọn một trong hai cách: + Giao hàng cho người giao nhận. + Giao hàng trực tiếp cho người của bên hàng không. - Ưu điểm: + Tốc độ hàng không cao: phướng thức có tốc độ vận chuyển và thời gian di chuyển nhanh nhất so với 2 phương thức đường bộ và đường biển. + Phương thức lý tưởng để vận chuyển hàng hóa dễ hư hỏng có thời gian sử dụng không dài.
+ Giao nhận hàng không có thể tiếp cận được với tất cả các khu vực trên thế giới mà không dễ dàng tiếp cận với các phương thức giao nhận khác, không bị cản trở về mặt địa hình. + Giao nhận hàng không nhanh chóng và ít phải xử lý các mặt hàng trong quá trình di chuyển. Giao nhận hàng hóa bằng đường hàng không rất an toàn và có mức độ rủi ro thiệt hại thấp. Hạn chế tối đa được những chi phí phát sinh do làm hàng, đỗ vỡ, trộm cắp.
+ Giao nhận hàng hóa bằng đường hàng không có mức độ an ninh cao vì các giới hạn an toàn và bảo vện nghiêm ngặt của sân bay đối với các hàng hóa được xuất khẩu. + Luôn đòi hỏi công nghệ cao. + Cung cấp dịch vụ tiêu chuẩn hơn hẳn các phương thức khác. + Phí bảo hiệm vận chuyển thấp hơn do có ít rủi ro hơn các phương thức khác do thời gian vận chuyển ngắn hơn.
+ Phí lưu kho thấp do đặt tính hàng hóa và tốc độ xử lý thủ tục nhanh hơn. -Nhược điểm: SVTH: Trương Thị Thúy Kiều 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Phương Thanh + Giá cước cao nhất: là phương thức vận chuyển có chi phí tốn kém nhất. Chi phí bảo dưỡng máy bay và chi phí xây dựng sân bay cao hơn nhiều so với phương thức khác.
+ Đòi hỏi đầu tư lớn về cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như đào tạo năng lực phục vụ. + Danh mục vận chuyển đa dạng, không phù hợp vận chuyển hàng hóa giá trị thấp. + Khối lượng vận chuyển nhỏ so với các hình thức khác: Khả năng chịu tải của máy bay bị hạn chế và thường quá nhỏ để đáp ứng yêu cầu của hầu hết chủ hàng quốc tế, máy bay không thích hợp để chở hàng hóa cồng kềnh và khối lượng nặng. + Chịu ảnh hưởng bởi thời tiết: do bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi thời tiết bất lợi nên không chắc chắn và không thể đoán trước được.
Thường các chuyến bay bị hủy do sương mù, mưa nhiều và tuyết. Vai trò của giao nhận hàng hóa đường hàng không: - Tạo điều kiện cho hàng hoá được lưu thông nhanh chóng, đảm bảo vấn đề an toàn và tiết kiệm mà không cần có sự hiện diện của các bên xuất khẩu và nhập khẩu trong quá trình tác nghiệp. - Giúp cho người chuyên chở đẩy nhanh tốc độ quay vòng của phương tiện vận tải, tận dụng một cách tối đa cũng như có hiệu quả tải trọng và dung tích của các phương tiện hay công cụ vận tải và các phương tiện hỗ trợ giao nhận khác. - Giúp làm giảm giá thành cho hàng hoá xuất nhập khẩu.
- Giảm bớt các loại chi phí không cần thiết cho khách hàng như: lưu kho bãi, chi phí đào tạo nhân công và các chi phí khác. Cơ sở vật chất kỹ thuật: - Cảng hàng không ( Air port): Là nơi đỗ cũng như cất cánh của máy bay, là nơi cung cấp các điều kiện vật chất kỹ thuật và các dịch vụ cần thiết liên quan đến vận chuyển hàng hóa và hành khách. Cảng hàng không có các khu vực làm hàng xuất, hàng nhập và hàng chuyển hải. - Máy bay: Là công cụ chuyên chở của vận tải hàng không.
Máy bay có nhiều loại: Loại chuyên chở hành khách cũng có thể nhận chuyên chở hàng dưới boong, loại chuyên chở và loại chở kết hợp cả khách cả hàng. - Trang thiết bị xếp dỡ và làm hàng: SVTH: Trương Thị Thúy Kiều 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Phương Thanh Trang thiết bị xếp dở và làm hàng ở cảng hàng không cũng phong phú và đa dạng. Có các trang thiết bị xếp dỡ và vận chuyển hàng hóa trong sân bay, có trang thiết bị xếp dở hàng hóa theo đơn vị.
Ngoài ra còn có các trang thiết bị riêng lẻ như: pallet máy bay, container máy bay, container đa phương thức,. Nhờ có các trang thiết bị này, ngành vận tải hàng không có thể vận chuyển hàng hóa đơn giản nhanh gọn hơn, đặc biệt ưu tiên những loại hàng kích cỡ nhỏ, yêu cầu giao nhanh với giá trị cao thì vận chuyển hàng không thực sự là một lựa chọn ưu việt. Sơ lược về thị trường giao nhận vận tải hàng không Thế Giới: Vận tải hàng không so với các phương thức vận tải khác thì còn khá non trẻ có tuổi đời khoảng một thế kỷ nay. Đặc biệt là sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, vận tải hàng không đã có những bước tiến lớn do những thành tựu của khoa học kỹ thuật và bắt đầu được sử dụng cho các mục đích dân sự.
Trong những năm trở lại đây, vận tải hàng không đã phát triển rất mau chóng nhất là ở khu vực Châu á Thái Bình Dương bình quân 8,5 % cả về công nghệ, kỹ thuật chế tạo máy bay lẫn số lượng hành khách. Năm 1995 toàn thế giới có 360 hãng hàng không, 6000 sân bay, khoảng 11500 chiếc phi cơ thu nhập 700 tỷ USD. Tuy mới ra đời nhưng vận tải hàng không đã phát triển hết sức nhanh chóng do có sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ và nhu cầu tốc độ cao của văn minh nhân loại. Ngày nay vận tải hàng không đã có những phi cơ trọng tải 70 tấn (B747 – 300) của Boing và vận tốc đạt 11.
Nó có vai trò quan trọng trong việc thiết lập và mở mang nhiều vùng kinh tế khác nhau, tạo những sự phát triển chung cho toàn thế giới. Tuy chỉ chở 1% tổng khối lượng hàng hoá nhưng lại chiếm tới 20% giá trị hàng hoá trong buôn bán quốc tế. Với những đặc trưng riêng, vận tải đường hàng không chỉ có thể phát triển được ở những khu vực kinh tế phát triển, có cơ sở hạ tầng tốt. Và trên thế giới hiện nay các cụm cảng hàng không tập trung chủ yếu ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Đông Bắc Á, và gần đây có sự phát triển vượt bậc của các nước Châu á Thái Bình Dương.
Bên cạnh đó thì hầu như tất cả các quốc gia đều có cụm cảng sân bay riêng của mình và ngày càng lớn mạnh không ngừng. SVTH: Trương Thị Thúy Kiều 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Phương Thanh 1. Người giao nhận hàng hóa trong hoạt động thương mại quốc tế: 1.
Khái niệm người giao nhận: - Trong thương mại quốc tế, việc dịch chuyển hàng hóa từ người bán đến người mua thường phải trải qua nhiều hơn một phương pháp vận tải với các thử tục xuất nhập khẩu và các thủ tục liên quan. Vì vậy xuất hiện người giao nhận với nhiệm vụ thu xếp những vấn đề thủ tục và các phương thức vận tải nhằm đưa hàng hóa từ quốc gia này đến quốc gia khác một cách hợp lý và giảm chi phí. - Theo Liên đoàn các hiệp hội giao nhận (FIATA): Người giao nhận (Forwarder, Freightforwarder hay Forwarding agent) là người thu xếp chuyên chở toàn bộ hàng hóa theo hợp đồng ủy thác và hoạt động vì lợi ích của ngừời ủy thác mà bản thân họ không phải là người chuyên chở. Người giao nhận cũng đảm bảo thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như đảm bảo lưu kho, trung chuyển, làm thủ tục hải quan kiểm hóa.
- Theo Ủy ban kinh tế, xã hội châu Á Thái Bình Dương ESCAP thì: Người giao nhận vận tải là đại lý ủy thác thay mặt nhà xuất nhập khẩu thực hiện những nhiệm vụ từ đơn giản như lưu cước, làm thủ tục thuế quan cho đến làm trọn gói các dịch vụ của toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng. - Theo điều 164, Luật thương mại Việt Nam năm 1997: Người giao nhận là người làm dịch vụ giao nhận, là các thương nhân có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa.