lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu đƣợc kết cấu theo 3 chƣơng nhƣ sau: CHƢƠNG 1: Cơ sở lý thuyết về hoạt động giao nhận hàng xuất khẩu bằng đƣờng hàng không CHƢƠNG 2: Thực trạng nghiệp vụ giao nhận hàng xuất khẩu bằng đƣờng hàng không tại Công ty TNHH MTV Vi Minh CHƢƠNG 3: Đánh giá và đề xuất giải pháp 3 Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN HÀNG XUẤT KHẨU BẰNG ĐƢỜNG HÀNG KHÔNG 1. Khái niệm giao nhận và ngƣời giao nhận 1.1 Khái niệm dịch vụ giao nhận (DVGN) Theo “Quy tắc mẫu của Hiệp Hội Giao Nhận Quốc Tế - FIATA (Federation Internationale de Associations de Transitaries et Assimilaimes) về dịch vụ giao nhận”, DVGN là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lƣu hàng, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng nhƣ các dịch vụ tƣ vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa. Theo Luật Thƣơng mại Việt Nam, DVGN là hành vi thƣơng mại, theo đó ngƣời làm DVGN nhận hàng từ ngƣời gửi, tổ chức vận chuyển, lƣu kho, lƣu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho ngƣời nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của ngƣời vận tải hoặc ngƣời giao nhận khác.2 Khái niệm người giao nhận (NGN) Chƣa có một một định nghĩa chuẩn tắc của quốc tế về thuật ngữ “NGN hàng hóa quốc tế”. Dù các nƣớc khác nhau, ngƣời kinh doanh DVGN đƣợc gọi tên khác nhau: „Đại lý Hải quan” (Customs House Agent), “Môi giới hải quan” (Customs Broker), “Đại lý gửi hàng và giao nhận” (Shipping and Forwarding Agent), một vài trƣờng hợp là “Ngƣời ủy thác chuyên chở, tức Ngƣời Chuyên chở chính” (Principal Carrier),… Theo Hiệp Hội Giao Nhận Quốc Tế - FIATA thì, “NGN là ngƣời lo toan để hàng hóa đƣợc chuyên chở theo hợp đồng ủy thác và hành động vì lợi ích của ngƣời ủy thác mà bản thân NGN không phải là ngƣời vận tải, NGN cũng đảm bảo thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận nhƣ bảo quản, lƣu kho, trung chuyển, làm thủ tục hải quan,.” Theo Luật Thƣơng mại Việt Nam, ngƣời làm DVGN là thƣơng nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa.3 Phạm vi hoạt động của dịch vụ giao nhận 4 Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 Trƣớc đây ngƣời làm giao nhận chỉ làm đại lý thực hiện một số công việc của nhà xuất khẩu, nhập khẩu uỷ thác nhƣ: xếp dở, lƣu kho hàng hoá, làm thủ tục giấy tờ lo liệu vận tải nội địa, thủ tục thanh toán tiền hàng.
Ngày nay cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cùng với sự tác động của tự do hoá thƣơng mại quốc tế, do đó phạm vi hoạt động của các dịch vụ giao nhận đƣợc mở rộng hơn. Đứng trên góc độ của một ngƣời giao nhận họ có thể làm các dịch vụ một cách trực tiếp hay thông qua đại lý hay thuê dịch vụ của những ngƣời thứ ba khác. Những dịch vụ mà ngƣời giao nhận có thể tiến hành là: Chuẩn bị hàng hoá để chuyên chở. Tổ chức hàng hoá chuyên chở trong phạm vi ga, cảng, sân bay.
Làm tƣ vấn cho chủ hàng trong việc chuyên chở. Ký kết hợp đồng vận tải với ngƣời chuyên chở, thuê phƣơng tiện vận tải, lƣu cƣớc. Làm các thủ tục gửi hàng,nhận hàng. Làm thủ tục hải quan, kiểm kiện, kiểm dịch.
Mua bảo hiểm cho hàng hoá. Lập các chứng từ cần thiết cho quá trình thanh toán gửi hàng. Thu xếp chuyển tải hàng hoá.