mở đầu cho sự thay đổi lớn trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thâm canh tăng vụ. Sau du canh là sự ra đời của các phương thức Taungya ở vùng nhiệt đới. Taungya được xem như một đấu hiệu báo trước cho các phương thức sử dụng đất sau này (Na, 1978). Theo Blanford thì nguồn gốc của phương thức này được xuất phát từ một địa phương, để chỉ phương thức du canh.
Sau đó được miêu tả về phương pháp phục hồi rừng ở Miến Điện vào những năm 1850 - 1858, do nhà tư bản Anh Quốc Dictaich Brandis vận dụng trong nghiên cứu tái sinh rừng Tếch (Blanford, 1958).Từ khi Dictaich Brandis cho những người dân sở tại (làm thuê) được tiến hành trồng cây nông nghiệp ngắn ngày, kết hợp dưới rừng Tếch, ông đã rút ra kết luận là có thể trồng rừng Tếch với giá rất thấp. Sau đó 2 thập kỷ, hệ thống canh tác Taungya được cải tiến sửa đổi và dân dần được hoàn thiện, phổ biến trên toàn thế giới và được coi như là một hệ thống sử dụng đất có hiệu quả kinh tế lẫn môi trường sinh thái. Theo thông báo của FAO năm 1990, đến nay đã có tới 117 nước trên thế giới áp dụng phương thức này. Hệ thống Taungya được mọi người biết đến với nhiều tên gọi khác nhau, ở một số nước các tên gọi được biểu thị cho.sự đặc biệt của phương thức du canh, ở Inđônêxia người ta gọi là Tumbansang, ở Philippin là Kaigining; ở Malayxia là la dang; 6 Srilanka 1a China.
Theo Von Hesmefi (1966; 1970) va King (1979), hau hét các rừng trồng ở vùng nhiệt đới đều được hình thành từ những phương thức này, đặc biệt là ở Châu Á và Châu Phi [16]. Như vậy, thấy rằng du canh là một hệ thống canh tác, trong đó các loài cây nông nghiệp và lâm ñigliêp-sinh trưởng kế tiếp nhau, còn Taungya bao gồm sự kết hợp đồng thời của eẩ hai löài cây trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành rừng trồng. Đứng trên quan điểm sứ dụng, quản lý đất thì cả hai quá trình trên đều có một điểm tương đồng là những cây nông nghiệp được sử dụng một cách tốt nhất bởi độ phì của đất được tăng Jen chính nhờ thảm mục của cây gỗ. Trong quá trình sử dụng con người đã làm thoái hóa khoảng 1,4 tỉ ha đất.
Theo Norman Mayer (1993), hàng năm trên toàn cầu mất khoảng I1 triệu ha đất nông nghiệp do các nguyên nhân xói mòn, rửa trôi và sa mạc hóa, nhiễm độc hoặc bị chuyển hóa sang dạng khác. Theo FAO, đến năm 1980 các loại hình quảng canh và du canh trên toàn thế giới chiếm tới 45% diện tích đất nông nghiệp. Đây là nguyên nhấn chủ yếu gây nên tình trạng xói mòn, thoái hóa đất làm giảm năng suất cây trồng. Do những yêu cẩu của mình, con người ngày càng xâm hại đến rừng để lấy lâm sản và đất canh tác, làm cho diện tích đất rừng ngày càng thu hẹp, đe dọa đến môi trường sống.
Theo dự báo của tổ chức dân số thế giới, nếu với tốc độ tăng trưởng dân số diễn ra như hiện nay thì đến năm 2025 dân số thế giới sẽ lên tới khoảng:8 tỷ người, tập trung ở các nước chậm và đang phát triển. Norman E: Borlang (1996) cho rằng: Cũng như trước đây loài người vẫn sống dựa vào lương thực, đặc biệt là hạt ngũ cốc, để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của mình. Nếu mức tiêu thụ lương thực theo đầu người vẫn giữ nguyên như hiện nay thì sự tăng dân số thế giới đòi hỏi phải tăng năng suất lương thực thô thêm 2,6 tỷ tấn vào năm 2025, tức là tăng 57% so với năm 1990. Nếu những người nghèo thuộc các nước đang phát triển (ước tính khoảng 1 tỷ người) được cải thiện khẩu phần ăn, thì sản lượng lưỡng thực thế giới hàng năm phải tăng gấp đôi (tương đương 4,5 tỷ tấn) vầo nãm 2025 [19].
Theo kỷ yếu sản xuất của FAO va tính toán của Norman E: Borlang thì nguồn lương thực từ ngũ cốc của thế giới mới chỉ có thể đạt 3,79 tỷ tấn vào năm 2025 [19]. Chính vì vậy, quỹ đất nông nghiép sé phai tăng để bù lại sự thiếu hụt lương thực và cũng là hướng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Cũng theo Norman thì cơ hội để mở mang thêm đất mới cho trồng trọt đã được tận dụng gần hết, nhất là với vùng đông dân như Châu Á, Châu Âu [19]. Trên thực tế thì đất đai mở mang có hạn và không thể đáp ứng được với tốc độ gia tăng dân số tự nhiên trên toàn cầu.
Theo Ducal (1978), trong vòng 20 năm từ nam 1957 - 1977 dat canh tắc trên thế giới tăng thêm 150 triệu ha bằng 10% đất đai có khả năng khai hoang cho nông nghiệp và bằng 9% đất canh tác lúc đó, trong khi đó mức độ tăng trưởng đân số thế giới đã tăng tới 40%. Nguồn lương thực sản xuất ra trên đất mới khai hoang chỉ đủ cung cấp cho 30% dân số tăng thêm. Như chúng ta đã biết, tình trạng mất rừng do áp dụng những hệ thống canh tác lạc hậu đã làm cho tài nguyên đất bị suy kiệt nghiêm trọng làm cho năng suất của cây trồng giảm sút. Để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao về lương thực, con người tìm cách giải quyết theo một trong hai hướng chính đó là: Tăng năng suất cây trồng bằng việc tận dụng tối đa tiềm năng của các loại đất, thâm canh tăng mùa vụ và mở rộng diện tích canh tác.
Để làm được điều đó công tác điều tra, khảo sát, phân loại và đánh giá đất đai để tìm ra giải pháp sử dụng đất có hiệu quả nhất trên cở:sở quy hoạch Sử dụng đất hợp lý, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi và đặc biệt là theo hướng nghiên cứu đánh giá tổng hợp tiềm năng của đất đai cho các mục tiêu sử đụng bền vững đã trở thành một yêu cầu bức thiết. Để tìm giải pháp nhằm nâng cao sản lượng lương thực và khắc phục tình trạng thiếu hụt về lương thực, đã thúc đẩy các nhà khoa học nghiên cứu tìm giải pháp về sử dụng đất đai bền vững. Một trong những thành công của quá trình nghiên cứu đó là đã tìm ra hệ thống kỹ thuật canh tác trên-đất déc (SALT) nham sử dụng đất dốc bền vững và được trung tâm đời sống nông thôn Bapstit Mintanao Philippin tổng kết, hoàn thiện và phát triển từ giữa những năm 1970 đến:nay [25]. Cho đến năm 1992 đã có 4 mô hình tổng hợp về kỹ thuật canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc được các tổ chức thế giới công nhận đó là: - Mô hình SALT 1 (Sloping Agriculture band Technology).
Đây là mô hình tổng hợp dựa trên cơ sở các biện pháp bảo vệ đất với sản xuất lương thực. Kỹ thuật canh tác nông nghiệp trên đất dốc với cơ cấu 25% cây lâm nghiệp + 25% cây lưu niên (NN) + 50% cây nông nghiệp hàng năm. - Mô hình SALT 2 (Simple Agrö - Livestock Technology). Đây là mô hình kinh tế nông lâm, súc kết hợp với cơ:cấu 40% cho NN + 20% LN + 20% chăn nuôi +20 % làm nhả:ở và chuôñg trại: - Mô hinh SALT 3 (Sustainable Agro - Forest land Technology).Đây là mô hình kỹ thuật canh tấc nông, lâm kết hợp bền vững.
Với cơ cấu sử dụng đất là 40% cho NN + 60% chø-bN: Mô hình này đòi hỏi đầu tư cao cả về nguồn lực, vốn và hiểu biết về khoa học kỹ thuật. Day là mô hình kỹ thuật sản xuất cây nông lâm nghiệp với cây ăn quả kết hợp với quy mô nhỏ. Với cơ cấu sử dụng đất là 60% cho LN + 15% NN + 25% cây ăn quả. Mô hình này đòi hỏi phải đầu tư cao cả về nguồn lực, vốn liếng cũng như kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm.
Bên cạnh những mô hình canh tác trên đất dốc ở mỗi quốc gia, đö đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và con người khác nhau nên còn nghiên cứu và đề xuất các mô hình thích hợp riêng như: Mô hình Taungya ở Thái Lan là mô hình làng lâm nghiệp, trong đố Nhà nước cấp đất để làm nhà ở + vườn là 0,16 ha và mỗi hộ nhận 1,6 ha đất để trồng rừng, trồng cây nông nghiệp. Nhà nước hỗ trợ hệ thống đường giao thông, y tế và giáo dục. Ở Inđônêxia từ năm 1972, việc chọn đất để trồng cây lâm nghiệp đều do cơ quan lâm nghiệp Nhà nước tổ chức. Nông dân được hướng dẫn trồng cây lâm nghiệp, nông nghiệp.
Sau khi trồng cây nông nghiệp được 2 năm, nông dân bàn giao lại rừng cho nhà nước, sản phẩm nông nghiệp họ toàn quyển sử dụng. Ngoài ra ở đây còn có mô hình làng lâm nghiệp "La dang" rất được chú ý. Vào năm 1990, khi nghiên cứu hệ thống canh tác, FAO đã xuất bản cuốn "Phát triển hệ thống canh tắc". Công trình đã chỉ rõ phương pháp tiếp cận nông thôn trước đây là phương pháp tiếp cận một chiều từ trên xuống, đã không phát huy được tiểm năng nông trại và cộng đồng nông thôn.
Thông qua nghiên cứu và thực tiễn, ấn phẩm đã riêu lên phương pháp tiếp cận mới đó là phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân, nhằm phát triển hệ thống trang trại trong cộng đồng nông thôn trên cơ sở bền vững. Hệ thống trang trại là các hộ được chia làm 03 phần cơ bản gồm: - Nông hộ - đợn:vịra quyết định - Trang tfai vã các hoạt động. - Các thành phan ngoai trahig trai. Về phương pháp luận đã sử dụng đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân vào-việc nghiên cứu các hệ thống canh tác.
Theo RobertCham bers {16.28], các cách tiếp cận chủ yếu là - Tiếp cận Son deo của Peter Hildebrand (Hildebrand, 1981). - Tiếp cận “nông thôn - trở lạt - về nông thôn” của Ro bert Rhoades (Rhoades, 1982). - Cách sử dụng cụm kiến nghị của L. - Cách tiếp cận "chẩn đoán và thiết kế của ICR AF", (Raintree).
- Chương trình nông nghiệp quốc tế - bản phân tích theo vùng các hệ canh tác của trường đại học Cornel (Garrett và cộng sự, 1987). Nhìn chung, các cách tiếp cận đó đều xem xét đánh giá nhanh như một quá trình học tập liên tục và đang tiếp diễn, qua đó các kết quả của mỗi giai đoạn đều được sử dụng để đánh giá lại các vấn đề và các biện pháp đã được dự kiến. Nhiều biện pháp điều tra và phỏng vấn được xây dựng đến các cách tiếp €ận đó. Về mặt phương pháp, bản hướng dẫn [28] quan tâm tới eác vấn đề sau: - Cung cấp các chỉ dẫn để xây dựng một khung cảnh đáng tin cậy nhằm tiến hành phỏng vấn.