Tổng quan nghiên cứu

Biển Đông giữ vị trí là một trong những tuyến hàng hải huyết mạch nhất hành tinh khi đảm nhận 5 trong 10 tuyến vận tải biển thông thương lớn nhất toàn cầu, với hơn 95% giá trị hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam lưu thông qua vùng biển này. Tuy nhiên, trật tự pháp lý và môi trường hòa bình tại đây đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng do tranh chấp chủ quyền phức tạp và sự sai lệch trong giải thích quy chế các thực thể địa lý. Công trình luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Quốc tế tập trung giải quyết vấn đề then chốt: Xác định chính xác quy chế pháp lý của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên các chuẩn mực của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 cùng thực tiễn quốc tế.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là làm sáng tỏ bản chất pháp lý của từng cấu trúc nổi và chìm, phân định ranh giới giữa đảo tự nhiên, đảo đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm và đảo nhân tạo; từ đó thiết lập hệ thống luận cứ khoa học nhằm phản bác các yêu sách mở rộng vùng biển phi lý. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian hơn 15.000 km² vùng biển quần đảo Hoàng Sa với hơn 30 thực thể và hơn 160.000 km² vùng biển quần đảo Trường Sa với trên 100 thực thể địa lý, trải dài theo tiến trình lịch sử và thực tiễn pháp lý từ trước năm 1982 đến năm 2015.

Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ học thuật vững chắc cho công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Nghiên cứu góp phần duy trì an ninh cho vùng biển có mật độ 250 đến 300 tàu thuyền qua lại mỗi ngày, đồng thời bảo vệ toàn vẹn vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa hợp pháp của Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hai nền tảng lý thuyết cốt lõi của công pháp quốc tế: Thuyết thụ đắc lãnh thổ thực sự và Thuyết quy chế pháp lý các vùng biển theo Công ước Luật Biển năm 1982. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp nguyên tắc duy trì tính ổn định của đường biên giới theo quy định của Công ước Vienna năm 1969 về Luật Điều ước Quốc tế. Mô hình nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở phân tầng hiệu lực pháp lý của các cấu trúc địa lý trên biển đối với việc tạo ra các vùng quyền lực biển.

Năm khái niệm chính được làm rõ và phân định ranh giới bao gồm: Đảo tự nhiên theo Điều 121 khoản 1 với đầy đủ nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; Đảo đá theo Điều 121 khoản 3 không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; Bãi cạn lúc nổi lúc chìm theo Điều 13 chỉ có thể dùng làm điểm cơ sở khi nằm trong phạm vi lãnh hải; Đảo nhân tạo và công trình thiết bị theo Điều 60 không có quy chế đảo và không có lãnh hải riêng; Quần đảo và quốc gia quần đảo theo quy định tại Điều 46 và Điều 47 của Công ước Luật Biển năm 1982.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ hệ thống văn bản điều ước quốc tế, hồ sơ tuyên bố chủ quyền, công hàm ngoại giao và các báo cáo khảo sát hải văn. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 130 thực thể địa lý tiêu biểu tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, kết hợp khảo sát 15 văn kiện pháp lý quốc tế và 6 phán quyết điển hình của Tòa án Công lý Quốc tế và Tòa Trọng tài quốc tế. Phương pháp chọn mẫu mục đích được áp dụng nhằm tập trung vào các cấu trúc địa lý nảy sinh tranh chấp trực tiếp và các thực thể chịu sự can thiệp bồi đắp nhân tạo.

Lý do lựa chọn phương pháp so sánh luật học và phương pháp phân tích quy phạm là nhằm đối chiếu các điều khoản trừu tượng của Công ước Luật Biển năm 1982 với các tiền lệ xét xử quốc tế thực tế, tiêu biểu như án lệ Anh và Pháp năm 1977, vụ Qatar và Bahrain năm 2001, cùng vụ Đảo Rắn giữa Romania và Ukraine năm 2009. Quá trình phân tích kết hợp chặt chẽ giữa góc độ lịch sử và logic pháp lý, được tiến hành liên tục và hoàn thiện trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2014 đến năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tuyệt đại đa số các thực thể tại Hoàng Sa với tổng diện tích nổi chỉ khoảng 10 km² và Trường Sa đều là đảo đá nhỏ hoặc bãi cạn lúc nổi lúc chìm, không hội đủ điều kiện duy trì đời sống kinh tế riêng biệt hoặc nuôi dưỡng cộng đồng dân cư tự nhiên theo Điều 121 khoản 3. Do đó, các cấu trúc này chỉ có tối đa 12 hải lý lãnh hải và hoàn toàn không thể tạo ra vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý hay thềm lục địa riêng.

Thứ hai, việc công bố đường cơ sở thẳng bao quanh quần đảo Hoàng Sa năm 1996 gồm 28 điểm cơ sở với đoạn dài nhất lên đến 78,8 hải lý, bao bọc 17.300 km² vùng nước là hành vi vi phạm nghiêm trọng Điều 47 của Công ước Luật Biển năm 1982. Tỷ lệ diện tích mặt nước so với diện tích đất nổi lên tới 1.730 trên 1, vượt xa giới hạn cho phép từ 1 trên 1 đến 9 trên 1, đồng thời quy chế đường cơ sở quần đảo chỉ dành riêng cho quốc gia quần đảo chứ không áp dụng cho quần đảo xa bờ của quốc gia lục địa.

Thứ ba, hoạt động bồi đắp từ 20 ha lên 810 ha tại 7 bãi ngầm và đá san hô trong giai đoạn 2014 đến 2015, điển hình như Đá Chữ Thập mở rộng thành đảo nhân tạo 2,65 km² hay Đá Subi đạt 3,87 km², đã phá hủy hơn 300 ha rạn san hô tự nhiên và gây thiệt hại kinh tế sinh thái trên 100 triệu USD mỗi năm. Căn cứ Điều 60, các công trình này hoàn toàn không làm thay đổi bản chất pháp lý của cấu trúc ngầm ban đầu và không tạo ra bất kỳ vùng biển hợp pháp nào.

Thứ tư, thực trạng chiếm đóng quân sự năm 1988 ghi nhận Việt Nam đóng giữ 21 thực thể, Philippines 8 thực thể, Trung Quốc 9 thực thể, Malaysia 5 thực thể và Đài Loan 1 thực thể, khẳng định sự đan xen phức tạp trên thực địa.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến các diễn giải sai lệch luật pháp xuất phát từ tham vọng kiểm soát trữ lượng tài nguyên khổng lồ, gồm gần 4 tỷ m³ dầu mỏ đã khảo sát, ước tính từ 215 đến 1.560 tỷ m³ khí đốt tự nhiên, cùng vị trí điều tiết 70% lượng dầu thô nhập khẩu của các nền kinh tế Đông Á. So sánh với các phán quyết quốc tế, Tòa án Công lý Quốc tế trong vụ phân định Biển Đen năm 2009 đã phán quyết Đảo Rắn không có thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế nhằm đảm bảo tính công bằng trong phân định ranh giới biển.

Để trực quan hóa toàn bộ dữ liệu, luận văn thiết kế bảng đối chiếu chi tiết các đặc điểm địa lý tự nhiên của 130 thực thể và xây dựng biểu đồ so sánh sự gia tăng đột biến giữa diện tích tự nhiên và diện tích bồi đắp nhân tạo. Việc mô tả dữ liệu qua hệ thống biểu đồ và bảng phân loại giúp bộc lộ rõ ràng tính chất phi pháp của các hoạt động cải tạo thực địa, cung cấp căn cứ vững chắc phục vụ đấu tranh ngoại giao.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện toàn diện hồ sơ chứng cứ lịch sử và giám định pháp lý đối với 100% các thực thể tại Hoàng Sa và Trường Sa theo tiêu chuẩn Công ước Luật Biển năm 1982. Cơ quan chủ trì là Bộ Ngoại giao phối hợp cùng Hội đồng Luật gia Quốc gia, thực hiện trong lộ trình 2016 đến 2020 nhằm sẵn sàng phương án đệ trình lên các cơ quan tài phán quốc tế.

Thứ hai, chủ động thúc đẩy tiến trình đàm phán Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông có tính ràng buộc pháp lý cao giữa ASEAN và Trung Quốc. Mục tiêu cụ thể là thiết lập cơ chế kiểm soát rủi ro nhằm giảm thiểu 50% nguy cơ va chạm thực địa, bảo đảm tuyệt đối an toàn hàng hải cho 250 đến 300 lượt tàu vận tải qua lại mỗi ngày theo kế hoạch rà soát thường niên.

Thứ ba, xây dựng chương trình hợp tác đa phương về nghiên cứu hải dương học và bảo vệ môi trường biển với các quốc gia ven Biển Đông. Bộ Tài nguyên và Môi trường giữ vai trò điều phối chính trong giai đoạn 5 năm, hướng tới mục tiêu phục hồi ít nhất 30% diện tích hệ sinh thái rạn san hô bị xâm hại do hoạt động nạo vét bồi đắp.

Thứ tư, tăng cường năng lực thực thi pháp luật và tuần tra bảo vệ ngư trường truyền thống. Lực lượng Cảnh sát biển và Kiểm ngư duy trì hiện diện thường trực 24/7 tại 21 vị trí đóng quân hợp pháp, bảo đảm an ninh tuyệt đối cho hơn 95% luồng xuất nhập khẩu đường biển và hàng vạn chuyến tàu cá của ngư dân hoạt động trên các vùng biển chủ quyền.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ ngoại giao và chuyên gia hoạch định chính sách tại Bộ Ngoại giao cùng Ủy ban Biên giới Quốc gia. Luận văn cung cấp luận cứ pháp lý và hệ thống số liệu chuẩn xác để phục vụ trực tiếp công tác đàm phán phân định biển và soạn thảo các văn bản đối ngoại quốc tế.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Luật Quốc tế, Luật Biển và Quan hệ Quốc tế. Tài liệu mang lại một khung phân tích hoàn chỉnh về quy chế đảo theo Điều 121 Công ước Luật Biển năm 1982 và các bài học từ án lệ phân định biển quốc tế.

Thứ ba, chỉ huy và cán bộ thuộc lực lượng Cảnh sát biển, Hải quân và Kiểm ngư. Công trình hỗ trợ nhận diện chính xác bản chất pháp lý của từng thực thể, rạn san hô và đảo nhân tạo để xử lý tình huống thực địa đúng chuẩn mực quốc tế.

Thứ tư, nhà báo, chuyên gia phân tích an ninh hàng hải và phóng viên truyền thông đối ngoại. Luận văn cung cấp bức tranh số liệu xác thực về diện tích 10 km² tự nhiên so với 810 ha bồi đắp, hỗ trợ sản xuất nội dung truyền thông chuẩn xác, nâng cao nhận thức cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động xây dựng đảo nhân tạo trên bãi cạn lúc nổi lúc chìm có tạo ra vùng lãnh hải 12 hải lý không? Theo Điều 60 khoản 8 của Công ước Luật Biển năm 1982, các đảo nhân tạo và công trình xây dựng không có quy chế của đảo, không có lãnh hải riêng và không ảnh hưởng đến phân định các vùng biển. Thực tế hoạt động bồi đắp hơn 810 ha tại Trường Sa chỉ được phép thiết lập vùng an toàn tối đa 500 mét xung quanh công trình để đảm bảo an toàn kỹ thuật.

Tại sao đường cơ sở thẳng do Trung Quốc công bố tại Hoàng Sa năm 1996 lại trái với luật pháp quốc tế? Đường cơ sở thẳng năm 1996 nối 28 điểm tại Hoàng Sa đã bao trùm 17.300 km² diện tích biển, gấp hơn 1.730 lần diện tích đất nổi tự nhiên 10 km². Theo Điều 47 của Công ước Luật Biển năm 1982, phương pháp kẻ đường cơ sở quần đảo chỉ áp dụng độc quyền cho quốc gia quần đảo, không áp dụng cho quần đảo xa bờ thuộc chủ quyền của quốc gia lục địa.

Tiêu chuẩn nào phân biệt một đảo tự nhiên với một đảo đá theo Công ước Luật Biển năm 1982? Căn cứ Điều 121, đảo tự nhiên là vùng đất nhô trên mặt nước khi triều lên và có khả năng duy trì sự sống con người hoặc đời sống kinh tế tự thân. Ngược lại, đảo đá không thích hợp cho con người sinh sống ổn định hoặc thiếu đời sống kinh tế độc lập sẽ không có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa.

Các bãi ngầm nằm trên thềm lục địa như bãi Tư Chính có quy chế pháp lý như thế nào? Bãi Tư Chính là bãi ngầm chìm hoàn toàn dưới mặt nước, nằm trọn vẹn trong phạm vi thềm lục địa 200 hải lý mở rộng từ bờ biển đất liền Việt Nam. Theo Điều 76 và Điều 77 của Công ước Luật Biển năm 1982, Việt Nam có quyền chủ quyền hoàn toàn đối với việc thăm dò, khai thác tài nguyên và quyền tài phán độc quyền xây dựng công trình tại đây.

Việc khởi kiện ra cơ quan tài phán quốc tế có vai trò gì trong giải quyết tranh chấp quy chế pháp lý? Các thiết chế tài phán quốc tế như Tòa án Công lý Quốc tế hay Tòa Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII của Công ước Luật Biển năm 1982 đóng vai trò giải thích khách quan các quy định pháp luật. Phán quyết trọng tài giúp vô hiệu hóa các yêu sách vùng biển phi lý, tạo cơ sở bình đẳng cho các bên đàm phán hòa bình.

Kết luận

Năm luận điểm tổng kết cốt lõi từ công trình nghiên cứu:

  • Xác lập rõ ràng ranh giới pháp lý giữa đảo tự nhiên, đảo đá, bãi cạn và đảo nhân tạo theo chuẩn mực Công ước Luật Biển năm 1982.
  • Khẳng định các thực thể tại Hoàng Sa và Trường Sa không thể tạo ra vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý hay thềm lục địa riêng biệt.
  • Chứng minh tính chất phi pháp của hệ thống đường cơ sở thẳng năm 1996 bao quanh quần đảo Hoàng Sa.
  • Bác bỏ mọi quyền năng pháp lý phát sinh từ hoạt động bồi đắp 810 ha đảo nhân tạo trái phép trên Biển Đông.
  • Khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam dựa trên nguyên tắc chiếm hữu thực sự và quản lý hòa bình, liên tục.

Đóng góp trọng tâm của luận văn là hoàn thiện hệ thống luận cứ khoa học, tích hợp 130 thực thể khảo sát và các tiền lệ tài phán quốc tế để định vị chuẩn xác quy chế pháp lý hai quần đảo. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2016 trở đi, việc chuẩn bị kỹ lưỡng hồ sơ pháp lý và vận dụng linh hoạt các biện pháp hòa bình sẽ là chìa khóa then chốt. Hãy đồng hành cùng giới học thuật trong việc nghiên cứu, lan tỏa tri thức pháp luật quốc tế và chung tay bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.