Tổng quan nghiên cứu

Biển Đông có diện tích khoảng 3,5 triệu km2, giữ vị trí tuyến hàng hải huyết mạch toàn cầu và sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú với tổng trữ lượng dự báo dầu khí thềm lục địa Việt Nam đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu quy đổi. Tại đây, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đóng vai trò lá chắn an ninh chiến lược với diện tích vùng biển Trường Sa trải rộng hơn 160.000 km2, bao gồm 137 đảo, đá, bãi ngập nước nhưng tổng diện tích nổi chỉ khoảng 11 km2. Tuy nhiên, tình hình an ninh khu vực đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi các tranh chấp chủ quyền phức tạp giữa 5 quốc gia và 6 bên liên quan. Việc Trung Quốc cùng một số bên gia tăng các hành vi đơn phương, sử dụng vũ lực chiếm đóng trái phép đã phá vỡ nguyên trạng và vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xây dựng hệ thống cơ sở lịch sử và pháp lý vững chắc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời đánh giá toàn diện cơ chế tài phán của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) để đề xuất lộ trình pháp lý hòa bình tối ưu. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian địa lý của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ 17 đến nay. Ý nghĩa của luận văn thể hiện ở việc mở ra hướng đi khoa học giúp Việt Nam chuẩn bị hồ sơ khởi kiện, tận dụng các quy chế tư pháp quốc tế để bảo vệ toàn vẹn 21 vị trí đảo đang quản lý thực tế, giảm thiểu 100% nguy cơ bùng phát xung đột vũ trang và duy trì sự ổn định bền vững cho toàn khu vực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết thụ đắc lãnh thổ trong công pháp quốc tế hiện đại, trọng tâm là học thuyết chiếm hữu thực sự (effective occupation) được củng cố qua các án lệ quốc tế lớn. Nghiên cứu kết hợp nguyên tắc cấm sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế theo Điều 2 Khoản 4 Hiến chương Liên Hợp Quốc và Nghị quyết số 2625 năm 1970 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Khung lý thuyết làm rõ 4 khái niệm pháp lý nền tảng: lãnh thổ vô chủ (terra nullius), thẩm quyền bắt buộc của cơ quan tài phán (compulsory jurisdiction), thỏa thuận thỉnh cầu (compromis), và chế định thẩm phán đặc việc (thẩm phán ad-hoc).

Mô hình nghiên cứu tập trung phân tích cơ cấu 15 thẩm phán độc lập của Tòa án Công lý Quốc tế với nhiệm kỳ 9 năm và quy định bắt buộc về số lượng tối thiểu 9 thẩm phán hợp lệ để tiến hành xét xử, từ đó đánh giá mức độ tương thích của hồ sơ Việt Nam trước cơ chế tài phán này.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ cỡ mẫu gồm 150 văn kiện lịch sử, châu bản, thư tịch cổ chính thống của Việt Nam cùng hệ thống 30 án lệ tranh chấp biển đảo tiêu biểu của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) và Tòa Trọng tài Thường trực (PCA). Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling), tập trung vào các văn bản quy phạm pháp luật, hiệp định quốc tế (Hiệp định Genève 1954, Hòa ước San Francisco 1951, UNCLOS 1982) và sách trắng ngoại giao có giá trị chứng cứ cao nhất.

Tác giả sử dụng phương pháp phân tích luật học so sánh, tổng hợp lịch sử logic và phương pháp phân tích quy phạm. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bóc tách rành mạch giá trị pháp lý của các hành vi quản lý nhà nước liên tục, hòa bình từ phía Việt Nam, đồng thời phản biện các luận điểm thiếu căn cứ của các bên tranh chấp. Toàn bộ quá trình nghiên cứu và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục trong thời gian 24 tháng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn chứng minh Việt Nam là quốc gia đầu tiên và duy nhất trong lịch sử đã xác lập, thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách hòa bình, thực sự và liên tục từ thế kỷ 17 dưới thời các Chúa Nguyễn qua hoạt động của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải. Quá trình quản lý nhà nước được tiếp nối vững chắc qua triều Nguyễn, thời kỳ Pháp thuộc, giai đoạn 1954 - 1975 và được Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam duy trì trên 21 thực thể đảo cho đến nay.

Thứ hai, nghiên cứu chỉ rõ các yêu sách của Trung Quốc và Đài Loan dựa trên đường chữ U chiếm khoảng 80% diện tích Biển Đông là hoàn toàn vô căn cứ. Việc Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm nhóm đảo phía Đông Hoàng Sa năm 1956, thôn tính toàn bộ Hoàng Sa năm 1974 và chiếm giữ 6 bãi đá tại Trường Sa năm 1988 vi phạm thô bạo luật quốc tế, do đó mang lại 0% giá trị pháp lý về mặt thụ đắc lãnh thổ.

Thứ ba, luận văn phân tích các yêu sách của Philippines (chiếm giữ 8 đảo dựa trên khái niệm vùng đất tự do Kalayaan), Malaysia (chiếm giữ 7 đảo dựa trên thềm lục địa) và Brunei (yêu sách vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý bao trùm bãi Louisa). Các yêu sách này đều bộc lộ khiếm khuyết lớn vì diễn giải sai lệch Điều 56 và Điều 76 Công ước Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), không thể chuyển hóa quyền tài phán kinh tế thành chủ quyền đối với các đảo nổi tự nhiên.

Thứ tư, nghiên cứu xác định Tòa án Công lý Quốc tế có 3 phương thức thiết lập thẩm quyền giải quyết tranh chấp (Điều 36 Khoản 1, Điều 36 Khoản 2 Quy chế Tòa) và cơ chế thẩm phán ad-hoc cho phép Việt Nam đề cử 1 đại diện tham gia hội đồng xét xử nhằm bảo đảm tối đa tính công bằng tố tụng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của các tranh chấp xuất phát từ tiềm năng kinh tế khổng lồ của Biển Đông với nguồn lợi đánh bắt 3 đến 3,5 triệu tấn hải sản mỗi năm và vị trí án ngữ các tuyến vận tải biển toàn cầu. Về mặt trình bày học thuật, dữ liệu lịch sử xác lập chủ quyền của Việt Nam có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ tiến trình thời gian từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 21, đi kèm bảng ma trận so sánh 5 tiêu chí pháp lý thụ đắc lãnh thổ giữa Việt Nam và các bên tranh chấp.

So với các công trình trước đây chỉ dừng lại ở việc khuyến nghị đàm phán chung chung, luận văn này đã tiến xa hơn khi phân tích tính khả thi của việc sử dụng cơ quan tài phán quốc tế ICJ. Kết quả nghiên cứu khẳng định việc đưa vụ việc ra ICJ không chỉ là biện pháp hòa bình tối ưu theo Điều 33 Hiến chương Liên Hợp Quốc mà còn giúp quốc tế hóa bằng chứng pháp lý, gia tăng sức ép ngoại giao chính nghĩa bảo vệ toàn vẹn lãnh hải đất nước.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện và số hóa 100% bộ hồ sơ chứng cứ lịch sử và pháp lý khởi kiện quốc tế. Bộ Ngoại giao chủ trì phối hợp cùng Bộ Tư pháp và Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam rà soát toàn bộ văn kiện, bản đồ cổ, hải đồ quốc tế, hoàn thành đóng gói hồ sơ pháp lý đa ngữ trước quý IV năm 2028.

Thứ hai, xây dựng chương trình đào tạo chuyên sâu về luật biển và tranh tụng tài phán quốc tế. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các cơ sở đào tạo luật trọng điểm đặt mục tiêu đào tạo ít nhất 50 chuyên gia, luật sư đạt tiêu chuẩn tranh tụng trước Tòa án Công lý Quốc tế trong giai đoạn 2026 - 2030.

Thứ ba, đẩy mạnh chiến dịch ngoại giao đa phương và vận động quốc tế. Ban Đối ngoại Trung ương và Bộ Ngoại giao tăng cường vận động tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, phấn đấu đạt tỷ lệ trên 70% các quốc gia thành viên ủng hộ giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng các cơ chế tài phán hòa bình, thực hiện định kỳ hàng năm từ năm 2026.

Thứ tư, tăng cường tiềm lực kinh tế biển gắn liền với bảo vệ an ninh quốc phòng. Bộ Quốc phòng phối hợp cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nâng cấp năng lực tuần tra đạt mức kiểm soát 100% các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền, bảo đảm an toàn cho hoạt động khai thác thủy sản đạt sản lượng hơn 3 triệu tấn mỗi năm đến tầm nhìn năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Các nhà hoạch định chính sách, cán bộ ngoại giao và chuyên viên pháp lý thuộc các cơ quan nhà nước. Nhóm này có thể ứng dụng toàn bộ khung phân tích lộ trình tố tụng ICJ và các cơ chế chấp nhận thẩm quyền của Tòa án để xây dựng phương án đấu tranh pháp lý bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Nhóm 2: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật Quốc tế, Quan hệ Quốc tế. Luận văn cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị với 150 tài liệu gốc và 30 án lệ ICJ tiêu biểu phục vụ việc giảng dạy, biên soạn giáo trình và nghiên cứu chuyên sâu.

Nhóm 3: Đội ngũ luật sư, chuyên gia tư vấn pháp luật quốc tế và giải quyết tranh chấp hàng hải. Họ có thể khai thác phương pháp thu thập chứng cứ lịch sử, kỹ thuật đối chiếu quy phạm UNCLOS 1982 để vận dụng vào thực tiễn tranh tụng các vụ việc có yếu tố nước ngoài.

Nhóm 4: Các cơ quan thông tấn, báo chí, tổ chức giáo dục và tuyên truyền biển đảo. Nguồn dữ liệu xác thực trong luận văn là tư liệu chính thống giúp xây dựng các chiến dịch truyền thông trong và ngoài nước, nâng cao nhận thức cho hơn 100 triệu người dân Việt Nam về chủ quyền không thể tranh cãi tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Câu hỏi thường gặp

Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) có thẩm quyền tự động xét xử tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa không?
Tòa án không có thẩm quyền tự động. Thẩm quyền xét xử chỉ được xác lập khi các bên liên quan đồng thuận ký thỏa thuận thỉnh cầu, hoặc cùng chấp nhận thẩm quyền bắt buộc theo Điều 36 Khoản 2 Quy chế Tòa, hoặc có điều khoản tài phán trong điều ước quốc tế có hiệu lực.

Hành vi sử dụng vũ lực của Trung Quốc tại Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa năm 1988 có tạo lập chủ quyền không?
Hoàn toàn không. Theo Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc và Nghị quyết 2625 năm 1970, mọi hành vi thụ đắc lãnh thổ bằng việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực đều là bất hợp pháp và không mang lại bất kỳ danh nghĩa chủ quyền nào.

Yêu sách của Philippines dựa trên sự kiện Thomas Cloma phát hiện đảo Kalayaan năm 1947 có giá trị pháp lý không?
Yêu sách này vô hiệu vì hai quần đảo đã được Nhà nước Việt Nam xác lập chủ quyền liên tục từ thế kỷ 17, không còn là đất vô chủ để cá nhân hay quốc gia khác tuyên bố chiếm giữ theo luật quốc tế.

Malaysia và Brunei có thể viện dẫn vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý để đòi chủ quyền các đảo nổi không?
Không thể viện dẫn. Quy định tại Điều 56 và Điều 76 của UNCLOS 1982 chỉ trao quyền chủ quyền về kinh tế và quyền tài phán đối với tài nguyên biển, không cho phép quốc gia chuyển hóa thành chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo nổi tự nhiên.

Cơ chế thẩm phán ad-hoc tại Tòa án Công lý Quốc tế có ý nghĩa gì đối với Việt Nam?
Cơ chế này cho phép Việt Nam chỉ định 1 thẩm phán đặc việc tham gia hội đồng xét xử khi Tòa không có thẩm phán mang quốc tịch Việt Nam, bảo đảm quyền bình đẳng tranh tụng và sự khách quan trong quá trình nghị án.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện các bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền hợp pháp, liên tục của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ 17.
  • Bác bỏ hoàn toàn các yêu sách phi lý về đường chữ U của Trung Quốc và các đòi hỏi chủ quyền sai lệch quy định UNCLOS 1982 của các bên liên quan.
  • Phân tích chi tiết quy trình tố tụng, cơ cấu 15 thẩm phán và các điều kiện pháp lý để đưa tranh chấp ra trước Tòa án Công lý Quốc tế.
  • Đề xuất giải pháp toàn diện kết hợp giữa đấu tranh pháp lý, đào tạo 50 chuyên gia quốc tế và phát triển kinh tế biển vững mạnh.
  • Khẳng định lộ trình giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình là con đường đúng đắn để bảo vệ toàn vẹn không gian 3,5 triệu km2 Biển Đông.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là đặt nền móng lý luận thực tiễn cho chiến lược khởi kiện quốc tế của Việt Nam. Lộ trình tiếp theo đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ ngành trong việc hoàn thiện hồ sơ chứng cứ trước năm 2028 và sẵn sàng các phương án tư pháp trước năm 2030. Các cơ quan nghiên cứu và quản lý nhà nước cần khẩn trương đưa các giải pháp này vào chương trình hành động thực tiễn nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.