Tổng quan nghiên cứu

Biển Đông là vùng biển chiến lược với diện tích khoảng 3,5 triệu km2, đóng vai trò huyết mạch đối với an ninh và kinh tế hàng hải toàn cầu. Đối với Việt Nam, quốc gia sở hữu bờ biển dài hơn 3.260 km chạy dọc từ Bắc xuống Nam, không gian biển đảo có ý nghĩa sống còn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, tình hình an ninh khu vực đã bị xáo trộn nghiêm trọng khi phía Trung Quốc liên tục thúc đẩy các yêu sách hàng hải phi lý, đỉnh điểm là việc gửi hai công hàm số CML/17/2009 và CML/18/2009 lên Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc vào ngày 07/05/2009 để chính thức lưu hành bản đồ đường 9 đoạn, yêu sách khoảng 80% diện tích Biển Đông, tương đương hơn 2,8 triệu km2. Đến năm 2014, nước này tiếp tục phát hành bản đồ khổ dọc nâng lên thành 10 đoạn nhằm thâu tóm tới 90% diện tích toàn vùng biển.

Đề tài tập trung nghiên cứu sự phi lý của yêu sách đường lưỡi bò dưới lăng kính luật pháp quốc tế, đối chiếu với các nguyên tắc nền tảng của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) và tập quán quốc tế. Mục tiêu cụ thể là bóc trần bản chất vô căn cứ của 4 học thuyết pháp lý mà phía Trung Quốc ngụy tạo, đồng thời xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện cho Việt Nam trong đấu tranh ngoại giao và tài phán quốc tế. Phạm vi thời gian nghiên cứu bao quát từ năm 1946 đến giai đoạn căng thẳng 2014 - 2015, tập trung trọng điểm vào không gian Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc, cung cấp căn cứ học thuật chuẩn xác bảo vệ hơn 1 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hợp pháp của Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên hệ thống khung lý thuyết vững chắc của Luật quốc tế hiện đại, bao gồm 4 nguyên tắc cơ bản ghi nhận trong Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945 và Tuyên bố 2625 (XXV) năm 1970 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc: nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, nguyên tắc cấm đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế, và nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế (Pacta sunt servanda).

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng các nguyên tắc đặc thù của Luật Biển quốc tế theo UNCLOS 1982, tiêu biểu là nguyên tắc đất thống trị biển, nguyên tắc công bằng trong phân định biển (Điều 15, Điều 74, Điều 83), nguyên tắc tự do biển cả và sử dụng biển cả vì mục đích hòa bình (Điều 87, Điều 88), cùng nguyên tắc bảo tồn môi trường biển (Phần XII). Về mặt thụ đắc lãnh thổ, luận văn áp dụng triệt để nguyên tắc chiếm hữu thực sự (effective occupation) kế thừa từ Định ước Berlin 1885 và Tuyên bố Lausanne 1888 với 4 yếu tố cấu thành: đối tượng vô chủ (terra nullius) hoặc bị từ bỏ (terra derelicta), chủ thể nhà nước có ý chí thực thi chủ quyền (animus), phương thức hòa bình có yếu tố vật chất kiểm soát thực tế (corpus), và hành vi chiếm hữu công khai, liên tục, không bị phản đối. Hệ thống lý thuyết này dùng để giải mã và bác bỏ 4 khái niệm pháp lý chủ chốt do học giới Trung Quốc đưa ra: thuyết đường biên giới quốc gia trên biển, thuyết đường quy thuộc đảo, thuyết vùng nước lịch sử và thuyết đường quyền lợi lịch sử.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng với cỡ mẫu gồm hơn 120 tài liệu pháp lý và học thuật, bao gồm 15 điều ước quốc tế đa phương và song phương, 8 phán quyết và án lệ quốc tế điển hình (như vụ Đảo Palmas năm 1928, Vụ Đảo Clipperton năm 1931, Vụ Đông Greenland năm 1933), cùng gần 30 tư liệu chính sử Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX (tiêu biểu như Phủ biên tạp lục năm 1776, Đại Nam thực lục năm 1844 và 1848).

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng nhằm chọn lọc các văn kiện ngoại giao quan trọng nhất, đặc biệt là hệ thống công hàm phản đối của Việt Nam, Philippines, Indonesia giai đoạn 2009 - 2014 và chuỗi bản đồ do Trung Quốc xuất bản từ năm 1946 đến năm 2014. Tác giả kết hợp phương pháp phân tích luật học so sánh, phương pháp giải thích quy phạm theo Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế, cùng phương pháp lịch sử - logic. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan tuyệt đối khi đối chiếu từng luận điểm của Trung Quốc với các quy phạm mệnh lệnh (jus cogens) và quy tắc phân định biển quốc tế. Timeline nghiên cứu được thực hiện tập trung và chuyên sâu trong giai đoạn 2013 - 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn chỉ rõ yêu sách đường lưỡi bò hoàn toàn không đáp ứng các tiêu chuẩn của một đường biên giới quốc gia trên biển. Theo Báo cáo số 143 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, đường đứt đoạn này được vẽ tùy tiện, không có tọa độ trắc địa xác định. Đoạn số 1 nằm áp sát bờ biển Việt Nam chỉ khoảng 50 hải lý (cách đảo Lý Sơn 36 hải lý), đoạn số 4 cách bờ biển đảo Borneo của Malaysia vỏn vẹn 24 hải lý, và đoạn số 9 cách đảo Y'Ami của Philippines 26 hải lý. Con đường này vi phạm hoàn toàn phương pháp đường trung tuyến cách đều quy định tại Điều 15 UNCLOS 1982.

Thứ hai, Trung Quốc không hề đáp ứng bất kỳ điều kiện nào của nguyên tắc chiếm hữu thực sự đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước thế kỷ XX, Trung Quốc không có bất kỳ văn bản quản lý nhà nước nào đối với hai quần đảo này. Việc Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa vào các năm 1956, 1974 và một phần Trường Sa vào các năm 1988, 1995 đã vi phạm nghiêm trọng Điều 2 Khoản 4 Hiến chương Liên Hợp Quốc. Đặc biệt, tại Hội nghị San Francisco ngày 05/09/1951, có tới 48 trên tổng số 51 quốc gia tham dự (tương đương 94,1%) đã bỏ phiếu bác bỏ đề xuất trao chủ quyền hai quần đảo này cho Trung Quốc.

Thứ ba, cả 4 học thuyết mà học giả Trung Quốc nỗ lực biện minh đều sụp đổ về mặt pháp lý. Yêu sách vùng nước lịch sử hay quyền lợi lịch sử hoàn toàn vô giá trị khi không chứng minh được sự kiểm soát liên tục mang tính nhà nước và bị các quốc gia ven Biển Đông phản đối quyết liệt qua các Công hàm số 86/HC-2009 của Việt Nam (ngày 08/05/2009), Công hàm số 480/POL-703/VII/10 của Indonesia (ngày 08/07/2010), và Công hàm số 000228 của Philippines (ngày 05/04/2011).

Thứ tư, các hành vi cải tạo, bồi đắp đảo nhân tạo của Trung Quốc từ cuối năm 2013 tại 6 bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa (Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Tư Nghĩa, Gạc Ma, Xu Bi) đã hủy hoại hơn 121 héc-ta rạn san hô, gây thiệt hại môi trường sinh thái ít nhất 108,9 triệu USD mỗi năm, vi phạm trực tiếp nghĩa vụ bảo vệ môi trường biển theo Điều 192 và 194 của UNCLOS 1982.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến các hành vi phi lý của Trung Quốc là mưu đồ độc chiếm không gian Biển Đông, biến các bãi đá nửa nổi nửa chìm thành căn cứ quân sự kiên cố nhằm kiểm soát tuyến hàng hải huyết mạch. Để hiện thực hóa mục tiêu này, phía Trung Quốc cố tình diễn giải sai lệch Điều 121 của UNCLOS 1982 để đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý cho các thực thể đá không thích hợp cho đời sống con người.

Khi thảo luận kết quả, toàn bộ khối dữ liệu nghiên cứu có thể được hệ thống hóa qua biểu đồ so sánh chiều dài đường bờ biển giữa các quốc gia ven Biển Đông, minh họa sự chênh lệch phi lý khi đường bờ biển đối diện Biển Đông của Trung Quốc chỉ đạt khoảng 2.800 km nhưng lại đòi quyền thụ hưởng tới 80% - 90% diện tích biển, trong khi bờ biển Việt Nam dài 3.260 km, Philippines dài 36.289 km và Indonesia dài 54.716 km. Đồng thời, bảng tổng hợp đối chiếu 4 học thuyết của Trung Quốc với các điều ước quốc tế chứng minh sự mâu thuẫn nội tại trong các văn bản pháp luật nội địa của chính quốc gia này. So với các công trình nghiên cứu quốc tế của Giáo sư Carl Thayer hay Giáo sư Erik Franckx, luận văn đã phân tích có hệ thống toàn diện cả 4 thuyết pháp lý dưới góc nhìn lập pháp và án lệ tài phán quốc tế, khẳng định chủ quyền lịch sử hợp pháp, liên tục của Việt Nam từ thời các chúa Nguyễn thế kỷ XVII.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, khởi động quy trình chuẩn bị hồ sơ pháp lý khởi kiện tại các thiết chế tài phán quốc tế. Bộ Ngoại giao chủ trì phối hợp với các chuyên gia luật pháp quốc tế hoàn thiện hồ sơ khởi kiện Trung Quốc theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982 hoặc tham gia với tư cách bên thứ ba có quyền lợi liên quan, đặt mục tiêu hoàn thành lộ trình thẩm định hồ sơ trong vòng 12 đến 24 tháng nhằm triệt tiêu hoàn toàn tính hợp pháp của đường 9 đoạn và đường 10 đoạn.

Thứ hai, đẩy mạnh hoạt động ngoại giao đa phương tại Liên Hợp Quốc và khối ASEAN. Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên Hợp Quốc cần tích cực vận động Đại hội đồng thông qua các nghị quyết đề cao tính phổ quát của UNCLOS 1982, hướng tới mục tiêu đạt trên 60% phiếu ủng hộ từ các quốc gia thành viên; đồng thời phối hợp chặt chẽ với 10 quốc gia ASEAN để hoàn tất đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) có hiệu lực ràng buộc pháp lý trong thời gian 2 đến 3 năm.

Thứ ba, chuẩn hóa và số hóa 100% hệ thống tư liệu lịch sử và hải đồ địa lý. Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tiến hành đo đạc chính xác tọa độ các điểm đường cơ sở, xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa ranh giới thềm lục địa mở rộng từ 200 đến 350 hải lý theo đúng chuẩn mực trắc địa quốc tế, hoàn thành toàn bộ đề án trước năm 2020.

Thứ tư, tăng cường nguồn lực thực thi pháp luật trên biển và bảo vệ ngư dân. Bộ Quốc phòng phối hợp Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đầu tư nâng cấp trang thiết bị cho lực lượng Cảnh sát biển và Kiểm ngư, bảo đảm hiện diện liên tục 24/7 nhằm bảo vệ an toàn tuyệt đối cho hơn 100.000 tàu thuyền và hàng triệu ngư dân Việt Nam an tâm khai thác hải sản trên vùng biển chủ quyền.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cán bộ ngoại giao và chuyên gia hoạch định chính sách chiến lược. Luận văn cung cấp hệ thống luận cứ pháp lý sắc bén, giúp các nhà ngoại giao sử dụng trực tiếp trong soạn thảo công hàm phản đối, tài liệu đàm phán song phương và chuẩn bị chiến lược pháp lý đối ngoại.

Nhóm thứ hai là giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật quốc tế, Quan hệ quốc tế. Nghiên cứu là nguồn tài liệu tham khảo chuyên sâu với hơn 120 danh mục trích dẫn, giúp phân tích sâu các án lệ quốc tế của ICJ, ITLOS và nguyên tắc giải thích điều ước quốc tế theo UNCLOS 1982.

Nhóm thứ ba là lực lượng thực thi pháp luật trên biển như Cảnh sát biển, Kiểm ngư và Hải quân. Công trình trang bị kiến thức pháp lý vững chắc về quy chế lãnh hải 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, hỗ trợ cán bộ chiến sĩ xử lý chuẩn xác các tình huống va chạm thực địa đúng luật pháp quốc tế.

Nhóm thứ tư là các cơ quan thông tấn, báo chí truyền thông đối ngoại. Luận văn cung cấp chuỗi số liệu lịch sử và chứng cứ pháp lý chuẩn xác, phục vụ công tác tuyên truyền chủ quyền biển đảo, đấu tranh phản bác hiệu quả các luận điệu xuyên tạc trên mặt trận truyền thông quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc xuất hiện chính thức trên trường quốc tế từ thời điểm nào? Yêu sách này được chính thức hóa trên bình diện quốc tế vào ngày 07/05/2009 khi phái đoàn Trung Quốc gửi công hàm số CML/17/2009 và CML/18/2009 đính kèm bản đồ đường 9 đoạn lên Liên Hợp Quốc. Trước đó, đường đứt đoạn 11 đoạn xuất hiện trong bản đồ nội bộ năm 1947 của Trung Hoa Dân Quốc và được Thủ tướng Chu Ân Lai chuẩn y rút xuống 9 đoạn vào năm 1953.

Tại sao đường lưỡi bò không thể được coi là đường biên giới quốc gia trên biển? Theo Điều 2 và Điều 15 UNCLOS 1982, biên giới trên biển chỉ mở rộng tối đa 12 hải lý từ đường cơ sở và phải được phân định qua thỏa thuận công bằng. Đường lưỡi bò vẽ tùy tiện, có đoạn áp sát bờ biển Việt Nam 50 hải lý, không có tọa độ rõ ràng, không có điều ước quốc tế nào công nhận và bị hơn 90% cộng đồng quốc tế phản đối.

Thuyết vùng nước lịch sử của Trung Quốc có giá trị pháp lý theo UNCLOS 1982 không? Thuyết này hoàn toàn không có giá trị pháp lý. Tập quán quốc tế quy định vùng nước lịch sử phải có sự thực thi chủ quyền lâu đời, liên tục và được các quốc gia láng giềng công nhận. Trung Quốc không thể chứng minh sự kiểm soát nhà nước trước thế kỷ XX và yêu sách này lập tức bị Việt Nam, Philippines, Indonesia bác bỏ qua hàng loạt công hàm chính thức.

Hoạt động cải tạo các bãi đá của Trung Quốc vi phạm những điều khoản nào của luật biển? Hoạt động san lấp, nạo vét tại 6 bãi đá ở Trường Sa phá hủy hơn 121 héc-ta rạn san hô, vi phạm trực tiếp Điều 192 và Điều 194 của UNCLOS 1982 về nghĩa vụ bảo vệ môi trường biển, đồng thời gây thiệt hại kinh tế sinh thái nghiêm trọng ước tính hơn 108,9 triệu USD mỗi năm cho các nước trong khu vực.

Việt Nam có những giải pháp tài phán quốc tế nào để vô hiệu hóa yêu sách phi lý này? Việt Nam có đầy đủ căn cứ để khởi kiện hoặc tham gia tố tụng theo cơ chế Tòa Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII hoặc Phụ lục VIII của UNCLOS 1982, Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS), hoặc Tòa Trọng tài Thường trực (PCA), kết hợp vận động các nghị quyết bác bỏ yêu sách tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc và ASEAN.

Kết luận

  • Luận văn đã chứng minh một cách toàn diện tính phi lý, vô căn cứ của yêu sách đường lưỡi bò 9 đoạn và 10 đoạn dưới ánh sáng của UNCLOS 1982 và tập quán pháp lý quốc tế.
  • Khẳng định vững chắc chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thông qua chuỗi chứng cứ lịch sử xác lập chủ quyền liên tục, hòa bình từ thế kỷ XVII.
  • Bóc trần và vô hiệu hóa hoàn toàn 4 học thuyết ngụy tạo của phía Trung Quốc nhằm bao chiếm bất hợp pháp từ 80% đến 90% diện tích Biển Đông.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ, kết hợp chặt chẽ giữa công cụ tài phán quốc tế, ngoại giao đa phương và củng cố dữ liệu thực địa.
  • Đóng góp nguồn tư liệu học thuật giá trị cao với hơn 120 văn kiện pháp lý và án lệ, phục vụ công tác nghiên cứu và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan chuyên trách cần nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ chứng cứ và chuẩn bị phương án tố tụng quốc tế. Độc giả, nhà nghiên cứu và cán bộ pháp lý hãy khai thác ngay toàn văn luận văn để trang bị hệ luận cứ đanh thép, đồng lòng bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.