chương 1 – Cơ sở lý luận của quyển Khóa luận tốt nghiệp này. Định nghĩa “Rủi ro là những điều không chắc chắn của những kết quả trong tương lai hay là những khả năng của kết quả bất lợi” 1.Mọi yếu tố làm cho lợi nhuận thay đổi so với dự tính dù là tăng hay giảm đều coi là rủi ro. Về định tính, rủi ro là sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn. Về định lượng, rủi ro là sự khác biệt giữa giá trị thực tế và giá trị kì vọng.
được đo bằng độ lệch chuẩn. Khi nhắc tới rủi ro, người ta thường nghĩ tới những tình huống bất lợi có thể xảy ra (downside risk). Nhưng trên thực tế , một số rủi ro có thể mang lại những kết quả tốt hơn, ngoài mong đợi (upside risk). Tại sao phải gánh chịu rủi ro ? Chấp nhận rủi ro đồng nghĩa với việc công ty có được lợi thế cạnh tranh hoặc khả năng gia tăng lợi nhuận về tài chính.
Lợi thế cạnh tranh là thế mạnh của doanh nghiệp so với doanh nghiệp khác mà nhờ đó làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhà quản trị luôn so sánh giữa chi phí bỏ ra và lợi ích đạt được khi xem xét một vấn đề. Một 1 PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt, Đầu tư tài chính, NXB Thống Kê năm 2006 3 c doanh nghiệp gọi là có lợi thế cạnh tranh khi mà lợi nhuận nó có được lớn hơn lợi nhuận trung bình ngành. Mối quan hệ giữa thái độ doanh nghiệp, mức độ rủi ro và cơ hội có được lợi thế cạnh tranh Mỗi doanh nghiệp có một thái độ riêng đối với rủi ro, được gọi là “Khẩu vị rủi ro” (Risk appetite), theo đó khẩu vị rủi ro của nhà đầu tư gồm 3 loại: - Không quan tâm rủi ro (Risk neutral) chỉ đặc tính của một nhà đầu tư trung lập với rủi ro.
- Không thích rủi ro (Risk averse) đặc tính của một nhà đầu tư không ưa thích rủi ro và không chấp nhận nhiều rủi ro hơn nếu không nhận thêm một tỷ suất sinh lợi bổ sung (phần bù rủi ro). - Thích rủi ro (Risk taker): sẵn sàng chấp nhận rủi ro với kỳ vọng là sự biến động sẽ theo chiều hướng có lợi 1. Nhận dạng và phân loại rủi ro Có rất nhiều cách để phân loại rủi ro, dưới là một trong những cách phân loại thường hay sử dụng nhất. Phân loại rủi ro 1.
Rủi ro tài chính 1. Định nghĩa “Rủi ro tài chính chỉ tính khả biến tăng thêm của thu nhập mỗi cổ phần và xác suất mất khả năng chi trả xảy ra khi một doanh nghiệp sử dụng các nguồn tài trợ có chi phí tài chính cố định, như nợ và cổ phần ưu đãi, trong cấu trúc vốn của mình” 2 Rủi ro tài chính phát sinh từ độ nhạy cảm của các nhân tố thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa, chứng khoán và những rủi ro do doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính – sử dụng nguồn vốn vay – trong kinh doanh, tác động đến thu nhập của doanh nghiệp Quàn trị rủi ro tài chính làm giảm độ biến động bất thường của giá trị công ty hoặc các dòng tiền thực của công ty, có thể làm tăng giá trị công ty thông qua tác động làm giảm thuế. Ngoài ra, nó còn bảo đảm cho doanh nghiệp có được trạng thái an toàn, tăng 2Tài chính doanh nghiệp hiện đại, NXB Thống kê năm 2005 5 c sự tự tin, tập trung cho hoạt động kinh doanh, ra quyết định đầu tư đúng đắn, tránh đầu tư lệch lạc. Trong một số trường hợp có thể biến rủi ro thành lợi thế để tìm kiếm lợi nhuận.
Phân loại Rủi ro tài chính gồm 4 loại chính: - Rủi ro tín dụng: là rủi ro thanh toán chậm hoặc không thu hồi được các khoản phải thu. - Rủi ro chính trị: là những rủi ro phải đối mặt khi hợp tác với nhà đầu tư ở nước ngoài. Rủi ro chính trị không nhất thiết nằm trong nhóm rủi ro tài chính nhưng nó vẫn được đưa vào đây vì rủi ro tài chính thường bắt nguồn từ bức tranh tổng thể hoạt động kinh doanh của nước ngoài. Rủi ro chính trị chủ yếu là để bao quát các rủi ro phát sinh từ những nguồn đầu tư trực tiếp ở nước ngoài.
- Rủi ro lãi suất: là rủi ro tăng lên hoặc giảm xuống giá trị của tài sản hoặc các khoản nợ phải trả do thay đổi lãi suất. - Rủi ro tiền tệ: là rủi ro phát sinh từ những biến đổi có thể xảy ra trong tương lai ở một tỷ giá hối đoái. Đây là một rủi ro 2 chiều, vì tỷ giá hối đoái có thể di chuyển theo hướng thuận lợi hoặc bất lợi. Ứng phó với rủi ro tài chính bằng thị trường phái sinh Các sản phẩm phái sinh (Derivative Securities) là những công cụ được phát hành trên cơ sở những tài sản khác như cổ phiếu, trái phiếu và hàng hóa ….
(tài sản cơ sở), nhằm mục đích phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận.Khi thị trường tài chính phát triển, các công cụ tài chính được xây dựng để kết hợp với việc phát hành nợ, giúp chuyển giao rủi ro tài chính cho bên thứ ba sẵn sàng chấp nhận rủi ro đó Thị trường phái sinh được phân thành 2 nhóm : - Thị trường tiền mặt (thị trường giao ngay) là nơi việc mua và bán đòi hỏi hàng hóa hoặc chứng khoán phải được giao nhận hoặc là ngay lập tức hoặc chỉ ít lâu sau đó. Việc thanh toán cũng thường được thực hiện tức thời. - Thị trường các công cụ phái sinh: là thị trường dành cho các công cụ mang tính chất hợp đồng mà thành quả của chúng được xác định trên một công cụ hoặc một 6 c tài sản khác (tài sản cơ sở). Các công cụ phái sinh cho phép việc thanh toán trong thời gian xác định trong tương lai.
Thông thường các sản phẩm phái sinh được phân thành một số loại chính sau: - Hợp đồng kỳ hạn (Forward) - Hợp đồng giao sau (Future) - Hợp đồng quyền chọn (Option) - Hợp đồng hoán đổi (SWAP) - Kết hợp các sản phẩm phái sinh Vai trò chính của các sản phẩm phái sinh gồm có: khóa rủi ro (hedge risk), dự báo thị trường (speculate) và tìm kiếm lợi nhuận từ việc chênh lệch giá (arbitrage) 1. Quản trị rủi ro 1. Định nghĩa Quản trị rủi ro là xác định mức độ rủi ro mà một công ty mong muốn, nhận diện mức độ rủi ro hiện nay của công ty đang gánh chịu và sử dụng các công cụ phái sinh hoặc các công cụ tài chính khác để điều chỉnh mức độ rủi ro thực sự mong muốn. 3 “Các công ty quản trị rủi ro để giảm thuế, giảm chi phí phá sản, bởi vì các nhà quản trị quan tâm đến tài sản của riêng họ, để tránh đầu tư lệch lạc, để thực hiện vị thế đầu cơ khi có dịp, để kiếm được lợi nhuận kinh doanh chênh lệch hoặc để giảm rủi ro tín dụng và từ đó làm giảm chi phí đi vay” 4 Có 2 quan niệm chính về quản trị rủi ro.
Trước đây, quản trị rủi ro chỉ đơn giản là những hoạt động nhằm mục đích bảo vệ doanh nghiệp khỏi tổn thất từ các rủi ro bất lợi (downside risk) bằng các quy trình phù hợp (conformance) hoặc các nghiệp vụ bảo hiểm rủi ro. Hiện nay, quản trị rủi ro còn hướng tới việc tận dụng cơ hội (upside risk) để nâng cao lợi nhuận tổng thể trong một doanh nghiệp.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang, Quản trị rủi ro tài chính, NXB Thống kê năm 2007 4 PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang, Quản trị rủi ro tài chính, NXB Thống kê năm 2007 7 c Nguồn: FAC (1999) Enhancing Shareholder Wealth By Better Managing Risk Sơ đồ 1. Sự kết hợp trong quản trị rủi ro 1. Quản lý rủi ro doanh nghiệp (ERM) Quản lý rủi ro doanh nghiệp (ERM – Enterprise Risk Management) là một thuật ngữ được đặt ra để liên kết các hoạt động quản trị rủi ro với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp giảm thiểu nguy cơ và rủi ro một cách hiệu quả hơn, đồng thời tối đa hóa cơ hội cho doanh nghiệp.
ERM được định nghĩa là: “Một quy trình, được thực hiện bởi hội đồng quản trị, bộ phận quản lý và các nhân sự khác trong một doanh nghiệp cụ thể, áp dụng trong việc thiết lập chiến lược và phổ biến rộng rãi trong doanh nghiệp. Nó được thiết kế để xác định các sự kiện tiềm ẩn có thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp. Tùy vào “khẩu vị rủi ro” (risk appetite) của từng doanh nghiệp, chương trình quản lý rủi ro đưa ra sự đảm bảo thích đáng trong việc đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Chiến lược quản trị rủi ro 1.
Xây dựng chiến lược quản trị rủi ro Một chiến lược quản trị rủi ro cần được phát triển nhằm đảm bảo mức độ rủi ro của doanh nghiệp phù hợp với “khẩu vị rủi ro” (risk appetite) của nó. Khả năng quản trị rủi ro trong doanh nghiệp tối thiểu phải đủ để: - Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ - Đảm bảo rằng các công tác quản lý được thực hiện đúng cách 5 Committee of Sponsoring Organisations of the Treadway Commission (COSO) (2003) 8 c - Giám sát việc thực hiện và tính hiệu quả của hệ thống quản trị rủi ro Không xác định đúng mức rủi ro có thể đưa doanh nghiệp đến tình trạng thất bại Sơ đồ 1. Xây dựng chiến lược quản trị rủi ro 1. Những thuộc tính cần có của một chiến lược quản trị rủi ro Trong một báo cáo chung về “Quản trị doanh nghiệp” của CIMA và IFAC vào năm 2004, những thuộc tính chính cần có của một chiến lược quản trị rủi ro được xác định bao gồm: - Thái độ của doanh nghiệp với rủi ro – sự cân bằng giữa rủi ro phải gặp và mức độ cần thiết để đạt được mục tiêu.
- “Khẩu vị rủi ro” (risk appetite) của tổ chức - Mục tiêu của chiến lược quản trị rủi ro - Văn hóa doanh nghiệp và mối quan hệ với rủi ro ( những hành động mà doanh nghiệp trộng đợi ở các cá nhân có liên quan đến chấp nhận rủi ro) - Trách nhiệm của nhà quản lý trong việc áp dụng các chiện lược quản trị rủi ro - Cần có sự tương tác giữa hệ thống quản trị rủi ro với những chương trình kiểm soát khác mà công ty đang sử dụng 9 c - Tiêu chí về hiệu suất cần được xác định để có thể ước lượng được hiệu quả quản trị rủi ro 1. Các chỉ số tài chính Chỉ số tài chính là những số liệu phản ánh “tình hình sức khỏe” cũng như xu hướng phát triển của một doanh nghiệp.