phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý xây dựng VHNT ở trƣờng cao đẳng Chƣơng 2. Thực trạng quản lý xây dựng VHNT tại Trƣờng Cao đẳng Y tế Bình Định Chƣơng 3. Biện pháp quản lý xây dựng VHNT tại Trƣờng Cao đẳng Y tế Bình Định 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƢỜNG Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới VHNT và quản lý VHNT là một vấn đề rộng lớn và phức tạp, có sự ảnh hƣởng lớn đến toàn bộ hoạt động của nhà trƣờng, nên từ lâu đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc. Ở nƣớc ngoài một số tác giả đã quan tâm nghiên cứu đƣa ra các quan điểm nghiên cứu về thuật ngữ “VHNT” (Deal, Terrence E (1993), Schein (2004)). Trong các công trình của mình, Purkey và Smith (1982), Peterson (2002) đã nghiên cứu cấu trúc, kết cấu về VHNT.
Hamilton và Richardson (1995) cũng đã đề cập đến ảnh hƣởng của VHNT tới hoạt động giảng dạy, sự phát triển nghề nghiệp của GV và hiệu quả học tập của SV [22], [27]. Schein (2004) - một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về văn hóa tổ chức, đã cho rằng văn hóa tổ chức gồm 3 cấp độ cấu thành. Đó là: a) Những quá trình và cấu trúc hữu hình; b) Hệ thống giá trị đƣợc tuyên bố; 3) Những quan niệm chung. Ba cấp độ này bao giờ các thành tố vật chất và thành tố tinh thần nằm trong mối quan hệ hữu cơ, tạo nên văn hóa tổ chức nhƣ một tổng thể.
Nghiên cứu về cấu trúc và các thành tố cấu thành VHNT, bên cạnh một số tác giả vận dụng mô hình ba tầng bậc của Edgar H. Schein, Frank Gonzales (1978) đƣa ra mô hình tảng băng (hai tầng bậc). Theo đó, VHNT giống nhƣ một tảng băng, có văn hóa biểu hiện ở bề mặt và văn hóa ở chiều sâu. Trong đó, bề mặt văn hóa là những thành tố vật chất dễ quan sát và dễ thay đổi.
Bề sâu của văn hóa là những yếu tố thuộc tinh thần nhƣ các giá trị, niềm tin và các ý nghĩ của con ngƣời mà chúng ta khó quan sát hoặc khó thay đổi. 8 Tác giả Purkey và Smith (1982) cũng xác định VHNT nhƣ một kết cấu, trong đó các giá trị và chuẩn mực có vai trò định hƣớng và điều chỉnh các hoạt động của ngƣời dạy và ngƣời học, của cán bộ nhân viên của nhà trƣờng theo hƣớng dạy và học chất lƣợng. Nhƣ vậy, tác giả này nhấn mạnh đến yếu tố giá trị và chuẩn mực trong VHNT. Một số tác giả khác khẳng định những chuẩn mực, niềm tin, giá trị và các giả định cơ bản đƣợc củng cố và hỗ trợ làm cho các hoạt động trong nhà trƣờng trở nên chuyên nghiệp hơn và đạt đƣợc chất lƣợng giáo dục và đào tạo.
Nghiên cứu về sự tác động của VHNT đến chất lƣợng giáo dục của nhà trƣờng, một số tác giả cho rằng VHNT tác động đến toàn bộ các thành viên trong nhà trƣờng; tác động đến sự thành công, hiệu quả hoạt động của nhà trƣờng. Peterson (2002) cho rằng: “Môi trƣờng VHNT tích cực, các thành viên luôn có ý thức chung về sự kết nối giữa các cá nhân, ý thức đƣợc chia sẻ rộng rãi về sự tôn trọng và chăm sóc cho mọi ngƣời. Còn môi trƣờng văn hóa chứa đựng các yếu tố tiêu cực sẽ tác động xấu đến hiệu quả giáo dục cũng nhƣ các hoạt động khác của nhà trƣờng” [19]. Để xây dựng VHNT, một số tác giả cho rằng vai trò của chủ thể quản lý là yếu tố quan trọng.
Chủ thể quản lý là ngƣời quyết định VHNT. Do vậy, nếu ngƣời lãnh đạo biết xây dựng VHNT và biết sử dụng VHNT để định hƣớng cho hoạt động giảng dạy và học tập của GV và SV thì chất lƣợng, hiệu quả giáo dục và đào tạo sẽ tốt hơn. Một số tác giả lại quan tâm đến điều kiện cơ sở vật chất của nhà trƣờng, môi trƣờng, cảnh quan, đồ dùng dạy học, khu vui chơi giải trí,. cùng với đó là bầu không khí tâm lý trong môi trƣờng VHNT.
Những yếu tố này không chỉ góp phần không nhỏ vào việc xây dựng VHNT mà còn là những yếu tố ảnh hƣởng đến các hoạt động cũng nhƣ chất lƣợng giáo dục của nhà trƣờng. Quản lý xây dựng VHNT là một trong những nội dung không thể thiếu 9 của hoạt động quản trị nhà trƣờng. Nghiên cứu về quản lý xây dựng VHNT, các tác giả Terrence E. Peterson (1999) cho rằng: lãnh đạo nhà trƣờng từ mọi cấp độ là chìa khóa để hình thành VHNT.
Hiệu trƣởng không chỉ định hƣớng giá trị mà điều quan trọng nhất là thay đổi các nền văn hóa tiêu cực và độc hại để xây dựng một cộng đồng tin tƣởng, tận tâm và ý thức đoàn kết; GV và kể cả phụ huynh đều tham gia quản trị và củng cố các giá trị vă hóa nhà trƣờng. Theo các tác giả, khi các niềm tin, giá trị, thái độ, sự kỳ vọng, ý tƣởng và hành vi của các thành viên trong một tổ chức nhà trƣờng không phù hợp với văn hóa thì sẽ gây cản trở cho nhà trƣờng. Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên thế giới đã nghiên cứu các vấn đề chung nhất về VHNT nhƣ: Khái niệm văn hóa, cấu trúc và các thành tố văn hóa nhà trƣờng, các yếu tố ảnh hƣởng và khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng và quản lý xây dựng VHNT. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam VHNT cũng thu hút nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam quan tâm và tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau.
Có thể nêu các nghiên cứu, tác giả sau: Tác giả Phạm Minh Hạc (2009) đã tìm hiểu một số vấn đề lý luận về VHNT. Theo tác giả, văn hóa học đƣờng là hệ các chuẩn mực, giá trị giúp những ngƣời quản lý, GV, SV, cha mẹ SV có cách thức suy nghĩ, tình cảm và hành động tốt đẹp. Tác giả cũng phân tích việc xây dựng văn hóa học đƣờng ở Việt Nam hiện nay. Theo tác giả, để xây dựng văn hóa học đƣờng cần chú ý đến xây dựng cơ sở vật chất của nhà trƣờng; xây dựng môi trƣờng giáo dục trong nhà trƣờng với các nội dung kỷ cƣơng, trung thực, khách quan, công bằng, tình thƣơng, khuyến khích sáng tạo, hiệu quả; xây dựng văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp trong nhà trƣờng với cách ứng xử văn minh, thân thiện, biết tôn trọng, quan tâm đến ngƣời khác.
Nghiên cứu tác giả Thái Duy Tuyên (2009) cho rằng văn hóa học 10 đƣờng là những giá trị, những kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài ngƣời đƣợc tích lũy trong quá trình xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân và quá trình hình thành nhân cách. Theo tác giả, VHNT trong một số trƣờng biểu hiện qua các khía cạnh nhƣ: Hệ thống giá trị, niềm tin, hoài bão, lý tƣởng mà thầy trò ấp ủ và thể hiện. Tác giả Vũ Dũng (2009) cũng đã bàn về một số vấn đề lý luận và thực tiễn của văn hóa học đƣờng. Tác giả nhấn mạnh văn hóa học đƣờng là hành vi ứng xử của các chủ thể tham gia hoạt động đào tạo trong nhà trƣờng, là lối sống văn minh trong trƣờng học.
Theo tác giả, văn hóa học đƣờng thể hiện ở một số khía cạnh sau: Ứng xử của ngƣời thầy với ngƣời học (quan tâm đến ngƣời học, hết lòng yêu thƣơng ngƣời học; tôn trọng ngƣời học; gƣơng mẫu trƣớc SV,…); ứng xử của ngƣời học đối với ngƣời thầy (biết kính trọng, yêu quý thầy cô; nhận thức và thực hiện những điều chỉ bảo, dạy dỗ của thầy cô,…); ứng xử giữa ngƣời lãnh đạo nhà trƣờng và GV (khuyến khích phát triển năng lực của các cá nhân, vị tha, độ lƣợng, công bằng, khách quan,.) ứng xử giữa các đồng nghiệp (tôn trọng, thân thiện, hợp tác,…) Nghiên cứu của tác giả cũng chỉ ra một số hạn chế về văn hóa học đƣờng ở nƣớc ta hiện nay nhƣ: quan hệ thầy - trò ít nhiều bị chi phối bởi vật chất, đạo lý tôn sƣ trọng đạo suy giảm, nảy sinh tệ nạn xã hội, bạo lực trong học đƣờng,. Một số tác giả khác nhƣ Trần Quốc Thành (2009), Phạm Thị Minh Hạnh (2009) cũng đã chỉ ra các yếu tố cấu thành VHNT gồm: kế hoạch, chiến lƣợc phát triển của nhà trƣờng (tầm nhìn, sứ mệnh, hệ thống giá trị mà nhà trƣờng theo đuổi, mục tiêu, định hƣớng phát triển); hoạt động quản lý nhà trƣờng, ảnh hƣởng của các cấp lãnh đạo đến các thành viên; bầu không khí tâm lý, cách thức ứng xử trong nhà trƣờng; khung cảnh của nhà trƣờng (nhà, phòng học, phòng làm việc, cơ sơ vật chất, biểu trƣng của nhà trƣờng); xây dựng thƣơng hiệu của nhà trƣờng. 11 Trong số những tác giả nghiên cứu VHNT ở Việt Nam không thể không kể đến tác giả Phạm Quang Huân. Theo tác giả Phạm Quang Huân (2009), cốt lõi của VHNT là văn hóa tổ chức, và từ bản chất của văn hóa tổ chức, tác giả quan niệm: VHNT là văn hóa của một tổ chức hành chính - sƣ phạm.
tác giả cũng cho rằng văn hóa tổ chức của một nhà trƣờng là hệ thống niềm tin, giá trị, chuẩn mực, thói quen và truyền thống hình thành trong quá trình phát triển của nhà trƣờng đƣợc các thành viên trong nhà trƣờng thừa nhận, làm theo và đƣợc thể hiện trong các hình thái vật chất và tinh thần, từ đó tạo nên bản sắc riêng cho mỗi tổ chức sƣ phạm. [15] Dƣới góc nhìn khoa học quản lý, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1996) đi sâu vào sức ảnh hƣởng và sự chi phối của hiệu trƣởng đối với VHNT và đều thống nhất cho rằng ngƣời hiệu trƣởng có vai trò định hình VHNT trên cơ sở thực hiện các hoạt động quản lý xây dựng VHNT, bao gồm: (1) Xây dựng đƣợc các giá trị chuẩn mực, xây dựng các kế hoạch chiến lƣợc phát triển nhà trƣờng và quan trọng hơn là việc chia sẻ, hiện thực các giá trị cốt lõi VHNT cho các thành viên trong nhà trƣờng; (2) Tổ chức thực hiện chia sẻ VHNT tích cực đến các thành viên nhà trƣờng (3) Xây dựng cơ chế giám sát nhằm đánh giá đƣợc các biểu hiện của VHNT. Trong những năm gần đây, một số luận văn tiến sĩ, luận văn thạc sĩ ngành Giáo dục học và Quản lý giáo dục cũng đã quan tâm nghiên cứu về vấn đề VHNT.