CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ XÂY DỰNG TẬP THE SƯ PHAM O TRUONG PHO THONG 1. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE QUAN LY XAY DUNG TTSP Khi đề cập đến công tác xây dựng TTSP đã có nhiều nhà giáo dục học, tâm lý học trên thế giới và trong nước với nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu, có giá trị. Mác đã khẳng định: “Chỉ trong tập thể, mỗi cá nhân mới có được phương tiện giúp cho cá nhân đó có khả năng phát triển toàn diện những tư chất của mình, và khi đó, chỉ trong tập thể mới có tự do cá nhân”, “Nhờ đó, mỗi người sẽ là một nhân cách độc đáo, sáng tạo, phong phú và cũng nhờ đó tập thể trở nên phong phú, đa dạng ”. [20] Các nhà nghiên cứu tâm lý học Liên bang Nga khi nghiên cứu về nhóm cũng quan tâm đến các vấn đề: nhóm lớn, tập thể, những đặc thù các quan hệ liên nhân cách trong nhóm như sự thóng nhất, sự lựa chọn, quyên tự quyết, tính quy chiếu, lãnh đạo, thủ lĩnh, các giai đoạn phát triển của tập thể.
Tiêu biểu là nhà giáo dục học nồi tiếng A. Macarenco, thành công lớn của ông là đã xây dựng được “cơ chế của tập thể, sự phát triển của tập thể, vai trò của tập thể các nhà giáo dục ” [19], những cống hiến này vẫn còn giá trị cho đến ngày nay. Ở Việt Nam việc nghiên cứu về nhóm, tập thể cũng được nhiều nhà tâm lý học, nhà giáo dục học nghiên cứu. Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt đã đề cập khá sâu sắc về vai trò của tập thể “7áp thế chân chính tuyệt nhiên không chèn ép, không xóa bỏ cá nhân mà phát triển cá nhân.
Trong tập thể, mỗi cá nhân sẽ tìm được những phương tiện và điều kiện để phát triển toàn điện và hài hòa nhân cách của mình ”. “Sự phát triển của tập thể và sự phát triển của cá nhân là hai quá trình quy định lần nhau ” [21]. Tác giả Vũ Dũng nhấn mạnh những đặc điểm của tổ chức cần được quan tâm trong hoạt động quản lý. Tác giả Trần Hiệp đi sâu nghiên cứu vấn đề cấu trúc nhóm, lãnh đạo nhóm.
Tác giả Phạm Đức Minh tập trung nghiên cứu các điều kiện phát triển của một tập thể và quá trình xây dựng tập thể. Lĩnh vực tâm lý học của tập thể và vai trò của tập thê có tác giả Nguyễn Đức Minh, Nguyễn Hải Khoát. Tóm lại, các nghiên cứu đều khẳng định tập thê có vai trò to lớn đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, đối với thành tích chung của tập thể. Vai trò của tập thể sư phạm nhà giáo dục A.
Macarenco đã viết: “Mới nên giáo dục đúng đắn được tổ chức bằng phương thức là tạo được tập thể thống nhất, mạnh mẽ, có nhiều ảnh hưởng” [19] và ông đề cao vai trò trung tâm của người hiệu trưởng trong tập thể sư phạm. Xukhomlinxki trong tác phẩm “?rưởng trung học Paviush ” [29] đã nhân mạnh đến vai trò hết sức quan trọng của TTSP đối với việc giáo dục tập thể học sinh. Đồng thời, ông còn nhấn mạnh đến sự ảnh hưởng của TTSP đối với sự phát triển, tiến bộ của từng thành viên trong TTSP đó. Vấn đề quản lý xây dựng TTSP được Xukhomlinxki minh họa qua những chuyện kể về quá trình 33 năm quản lý trường trung học Pavlush.
Do vậy, tầm quan trọng của việc xây dựng TTSP “Giáo đực trong tập thể và bằng tập thể” đã được xem là một trong những nguyên tắc cơ bản của nên giáo dục nước ta. Vấn đề quản lý và xây dựng TTSP trong nhà trường nói chung, trong trường THPT nói riêng đã có nhiều nhà giáo dục học, nhà tâm lý học trên thế giới và trong nước đề cập và khẳng định đây là yếu tố đòn bây quan trọng đối với sự phát triển của nhà trường. Thế kỷ XXI đánh dấu bước chuyển biến mới của thời đại với nhiều thay đôi tốc độ nhanh đưa đến sự tắt yếu nảy sinh nhu cầu đổi mới không ngừng ở từng tổ chức. Tổ chức biết học hỏi được quan niệm là một triết lý, một thái độ, một cách tiếp cận mới đối với thực tiễn xây dựng và quản lý tổ chức, đó là tổ chức mà trong đó mọi thành viên được huy động, lôi cuốn vào việc tìm kiếm, phát hiện và giải quyết , vào việc làm cho TC có khả năng thực nghiệm cách làm mới iến đổi, phát triển và cải tiến liên tục nhằm day nhanh khả năng tăng trưởng của TC, khiến TC có thể đạt được mục tiêu của mình một cách tốt đẹp nhất.
Trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu về khái niệm tô chức biết học hỏi (TCBHT) như: Peter Senge - What's Next in Organizational Learning? ; Martin Schulz - Organizational Learning ; Mark K.Smith 2001 - Peter Senge and the learning organization ; Senge, P., Charlotte Roberts, Rick Ross, George Roth, Bryan Smith, and Art Kleiner (1999) - What is Organizational Leaning ? Tại Việt Nam, TCBHH là một thuật ngữ còn khá mới mẽ và xuất hiện nhiều trong thời gian gần đây. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề TCBHH như: Nguyễn Anh Thư, 7ổ chức biết học — Một đặc trưng của những tổ chức mới ; Nguyễn Thị Hoàng Anh, Van dung lý thuyết Tổ chức biết học hỏi" vào quản lÿ sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ; Lê Thị Mỹ Trí, “Biện pháp xây dựng Trường Cao đẳng Bách Khoa Đà Nẵng thành tổ chức biết học hỏi ". Hầu hết các tài liệu, công trình nghiên cứu đã đề cấp đến vai trò, nhiệm vụ, phương pháp và những yêu cầu đối với TCBHH. Tuy nhiên, nghiên cứu lý luận một cách có hệ thống việc quản lý xây dựng TTSP trong trường phổ thông có nhiều cấp học theo hướng TCBHH lại quá ít.
Vì vậy, trong khuôn khổ của dé tài, , chúng tôi muốn nghiên cứu về cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn và đề xuất các biện pháp xây dựng TTSP ở trường phổ thông nhiều cấp học theo hướng TCBHH, góp phần xây dựng một môi trường giáo dục tích cực cho CB, GV-NV và HS, trên cơ sở đó nâng cao chất lượng GD toàn diện của trường phổ thông Hermann Gmeiner Đà Nẵng, đáp ứng yêu cầu đi dục và xu thế hội nhập hiện nay. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CUA ĐÈ TÀI 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường a. Quản lý Từ thời Cổ đại tư tưởng và lý luận quản lý (QL) đã được hình thành.
Tư tưởng “đức tri” cia Không Tử (551-479 TCN) với triết lý Đạo Nhân đã chỉ phối hoạt động quản lý, chủ yếu cho việc quản lý xã hội đất nước “?w thân, tẺ gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Với mục đích đào tạo lớp người cai trị xã hội bằng các tố “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín ” đê hình thành nên mẫu người quản lý như “quân a7’ và “&e sĩ” đã có ảnh hưởng nhất định đến xã hội qua tư tưởng nhân ban “lam cho dân giàu, nước mạnh”: được các đời sau kế thừa và phát triển. Đến thời Chiến quốc, kinh tế khá phát triển song lại kém ồn định về chính trị - xã hội, Hàn Phi Tử (280-233 TCN) đã chủ xướng tư tưởng “pháp /j”, coi trọng pháp chế nghiêm khắc và đề cao thuật dùng người. Đó là tư tưởng duy lý, duy lợi được tái hiện sau hơn 2000 năm ở phương Tây trong triết lý “con người kinh té”.
Các thuyết quản lý sau này kết hợp cả hai tư tưởng triết học đó để ngày càng coi trọng hơn nhân tố văn hóa trong quản lý. Với sự phát triển thương mại (thế kỷ XVI) và cuộc cách mạng công nghiệp 6 chau Au (thé ky XVIID), hoạt động quản lý được tách ra thành một chức năng riêng như một nghề chuyên nghiệp từ sự phân công lao động xã hội. Lý thuyết quản lý từng bước. tách ra khỏi triết học để trở thành một khoa học độc lập - khoa học quản lý.
Bản thân khái niệm “Quản lý” có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Mặc khác, do sự khác biệt về chế độ xã hội, nghề nghiệp, thời đại nên khái niệm quản lý có những lý giải khác nhau. Cùng với sự phát triển khác nhau giữa các phương thức sản xuất và nhận thức mở rộng của con người thì sự khác biệt về lý giải khái niệm quản lý cảng rõ nét 10 Theo Từ điển giáo dục học, Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng có chủ định của chủ thể QL đến khách thể QL trong một tô chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Các hình thức chức năng quản lý chủ yếu gồm: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
“Theo thuyết quản lý khoa học của E. Taylor: “Quản by la biết được điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là những rác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thé quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt được mục đích nhắt định ". Do vậy, có thể khái quát: Quản lý là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.
Chủ thể quan ly Sơ đồ 1. Mô hình biêu diễn tác động của quá trình quản lý "1 Nội dung, phương pháp hoạt động cơ bản mà chủ thể quản lý tác động đến khách thể QL được gọi là chức năng QL. Trong thực tiễn QL 4 chức năng lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, không tách rời ra mà lồng, ghép vào nhau lập thành một chu trình QL, trong đó yếu tố thông tin là dòng, máu cho QL, là nền tảng kết nói quá trình QL, kết nối cả chu trình quản lý. Một chu trình quản lý bao gồm 16 bước: Phân tích tình hình —› Xác định nhu cầu —> Hoạch định chính sách —› Cụ thể hoá thành nhiệm vu > Xay dựng kế hoạch —> Lựa chọn chiến lược hành động —› Nhận diện tiêu chuẩn —› Phát hiện nguồn lực —> Huy động nguồn lực —› Tổ chức phân công —› Phân phối nguồn lực —› Triển khai nhiệm vụ —> Chỉ đạo thực hiện —> Giám sát kiểm tra — Lượng giá kết quả —› Phản hồi kết quả.
Mô hình biêu diễn chu trình quản lý b.