Chương 1: Cơ sở lí luận của việc quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các trung tâm giáo dục thường xuyên 6 Chương 2: Thực trạng quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn Hà Nội Chương 3: Biện pháp quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn Hà Nội 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÍ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1 Những nghiên cứu ở nƣớc ngoài Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, trên thế giới, các nước phát triển như Cộng hòa Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore…đều sớm chú trọng đến việc ứng dụng CNTT trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Và coi đó như là một động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia đã xây dựng chiến lược quản lí ứng dụng CNTT, đặc biệt là ở các nước phát triển như Mỹ, Anh.
Quản lí ứng dụng CNTT trong GDTX đã được các nước trên thế giới nghiên cứu ứng dụng từ những năm 90 của thế kỷ trước. Họ cho rằng CNTT được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để cung cấp các chương trình học tập từ xa đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời thông qua mạng Internet. Vì thế, CNTT đã được nghiên cứu ứng dụng mạnh mẽ trong GDTX ở những nước phát triển khu vực Châu Âu, Bắc Mỹ và những nước thuộc châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Inđônêxia, Ấn Độ. Ngày nay, vấn đề quản lí ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo đã được hầu hết các nước trên thế giới quan tâm.
Tại hội nghị Bộ trưởng các nước Châu Á- Thái Bình Dương (APEC) đã đề cập đến "Giáo dục không biên giới" mà vai trò của CNTT là khâu then chốt. Ứng dụng CNTT trong quá trình DH sẽ hỗ trợ đắc lực cho người học đặc biệt tạo cơ hội học tiếp cho người lớn tuổi. Từ đó chúng ta có thể tiến hành xây dựng xã hội học tập. Năm 2009, tại Hội nghị Á – Âu về học tập suốt đời tổ chức tại Nha Trang, Việt Nam đã thống nhất phối hợp nghiên cứu về việc quản lí ứng dụng CNTT trong giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời cho mọi người.
Năm 2010 diễn đàn về học tập suốt đời tổ chức tại Hà Nội, các đại biểu đến từ Đan Mạch, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. cũng đã có nhiều báo cáo về ứng dụng CNTT, quản lí ứng dụng CNTT trong giáo dục người lớn, GDTX, trong đào tạo, bồi dưỡng GV [75]. 8 Việc quản lí ứng dụng CNTT được coi như là một công cụ để sử dụng trong GDTX. Ở các nước phát triển như Mỹ, nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh và doanh nghiệp đã trang bị máy tính cho các trường học, thư viện cộng đồng, nhờ đó, nhiều người có thu nhập thấp đã có cơ hội tiếp cận với CNTT.
Nhiều trường học đã tập trung cho các dụ án cung cấp giáo dục từ xa cho người học có thể học tập bất cứ nơi nào, thời gian nào và với bất cứ đối tác nào. Tại Anh cũng có các chương trình quản lí ứng dụng CNTT trong việc DH cho người lớn. Mọi người có cơ hội tiếp cận trực tiếp với mạng Internet thông qua mạng lưới 2000 trung tâm “học tập trực tiếp” và 6000 trung tâm qua mạng Internet ở tại cộng đồng [74]. Các chương trình hành động về giáo dục của Đức và Ấn Độ, chính phủ các nước này đã tin tưởng vững chắc vào việc quản lí ứng dụng CNTT trong DH như là một phần để tạo dựng xã hội học tập.
Những ý tưởng này bao gồm cả vấn đề nâng tỷ lệ tiếp cận máy tính và Internet cho tất cả mọi người đặc biệt là những người đang làm việc, khuyến khích các nhà chính trị và các nhà giáo dục liên kết với nhau và có sự quan tâm hơn tới giáo dục người lớn. Sử dụng những công nghệ mới để khắc phục những bất công bằng tồn tại trong giáo dục hướng tới xây dựng xã hội học tập suốt đời. Nhiều nhà giáo dục lớn trên thế giới đã thấy cần phải có quan niệm rộng về giáo dục: giáo dục người lớn, GDTX, giáo dục không chính quy phải được coi là một bộ phận chủ yếu, quan trọng cùng với nhà trường chính quy cung cấp cơ hội học tập suốt đời. Xã hội ngày càng phát triển thì khái niệm "xã hội học tập" và việc phát triển một nền "Giáo dục suốt đời" càng có ý nghĩa.
GDTX chẳng những giúp cho người lớn đang làm việc luôn được cập nhật với kiến thức mới mà còn có ý nghĩa lớn về mặt xã hội, chính trị văn hoá và góp phần xây dựng một xã hội ổn định và bền vững. Nhu cầu học tập của người lớn ngày một tăng cao, người ta học để biết, để làm việc tốt hơn, để tự khẳng định mình và để hoà nhập vào cộng đồng ngày càng tiến bộ. Trong tác phẩm "Các phương pháp học của người lớn", Malcolm S. Knowles đã đề cập đến các hình thức tổ chức hoạt động học tập, tạo động cơ học tập cho người lớn, phương pháp học tập.Trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến kĩ năng tự học của người lớn [93].
Năm 1991, Veronica Mc Givney và Frances Murray đã đề ra các biện pháp tiến hành trong quá trình DH nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của HV lớn tuổi bao gồm: biên soạn và cấu trúc nội dung tài liệu học phù hợp, cung cấp tài liệu tra cứu, tăng 9 cường các TBDH hiện đại kết hợp với việc thiết kế các TBDH đơn giản rẻ tiền ở địa phương, tăng cường tự học ở trên lớp và ở nhà. Trong cuốn sách "Adult Basic Skills" xuất bản năm 1997 [92], cuốn sách "Adult Learning Methods" xuất bản năm 1990 [93], và Tạp chí "Adult Education and Development" số 39, 1992; số 40, 1993; số 41, 1993; số 52, 1999 [94], đã đề cập đến các đặc điểm tâm lí nhận thức của HV lớn tuổi và các phương pháp học tập của họ. Năm 1999, Roger Mucchielli đã đề ra phương pháp tích cực trong đào tạo người lớn tuổi và đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của tự học đối với HV lớn tuổi [60]. Ở Hàn Quốc, hệ thống giáo dục đặc biêt và GDTX được cung cấp bởi cơ sở giáo dục đặc biệt và các tổ chức khác, từ giáo dục tiểu học đến trung học, giáo dục đại học được cung cấp bởi trường đại học mở quốc gia.
Hệ thống ngân hàng tín chỉ cũng giúp mọi người có thể tự học để đạt bằng cử nhân. Các trường đại học mở và tại chức cung cấp cơ hội học tập cho những ai không vào học ở trường đại học vì vấn đề tài chính và các lý do cá nhân khác. Năm 1981, ở Singapo thông qua một đạo luật về tin học hoá quốc gia, quy định ba nhiệm vụ: một là, thực hiện việc tin học hoá mọi công việc hành chính và hoạt động của chính phủ. Hai là: phối hợp giáo dục và đào tạo tin học.
Ba là, phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học ở Singapo. Một uỷ ban máy tính quốc gia (NCB) được thành lập để chỉ đạo công tác đó. Đến năm 2000 học sinh phổ thông ở Singapo đã sử dụng thành thạo Ipad (Máy tính dạng bảng). Jeannette Vos – Gorden Dryden (2004), trong cuốn Cách mạng học tập những yếu tố và phương pháp để học tập tốt có nói đến vai trò mới của những phương tiện liên lạc điện tử: “Chính sự kết hợp Internet, máy tính và cách mạng trang Web, thế giới đang được định hình lại toàn bộ thế hệ, thậm chí còn mạnh mẽ hơn so với trước đây khi báo chí, in ấn, radio và TV đã tạo ra”.
Tác giả còn đề cập đến vai trò của máy vi tính đối với GV và HS: “Máy vi tính với công nghệ tiên tiến cao có khả năng phục vụ những người thầy phụ đạo và như những thư viện, cung cấp thông tin và ý kiến phản hồi nhanh chóng cho từng học sinh” [40]. Có thể nói, cuốn sách Cách mạng học tập những yếu tố và phương pháp để học tập tốt đã được hai tác giả nổi tiếng (Jeannette Vos và Gorden Dryden) đưa ra thông điệp: chúng ta cần có một cuộc cách mạng về học tập để tương xứng với cuộc cách mạng tri thức. Tại Canađa, gần đây việc giới thiệu phần mềm dạy toán học trên cơ sở máy tính (The learning Equation Mathematics) đã đem lại thành tích nổi bật so với 10 những em học sinh sử dụng SGK truyền thống. Đó là phần mềm dành cho những em HS lớp 9 đề cập kiến thức về toán học và những kỹ năng liên quan đến số học, mô hình và hình dạng.
Nhưng phần mềm này mới chỉ đưa vào DH bộ môn toán, nếu áp dụng cho các môn học khác thì có lẽ lại không phù hợp và hiệu quả. Ở các nước phát triển họ đều đưa những nội dung kiến thức tin học cơ bản, kỹ năng ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở hầu hết các cơ sở giáo dục theo nhiều hình thức tổ chức khác nhau. Nhằm trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng CNTT cần thiết để ứng dụng trong cuộc sống và hỗ trợ việc học tập các môn học khác. Đồng thời trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về máy tính, mạng internet và cách sử dụng chúng cho hiệu quả.
Đối với các nước trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, việc quản lí ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo được thực hiện chưa đồng bộ. Các nước như Úc, Hàn Quốc và Singapore, Bộ Giáo dục của họ đã hình thành một quốc gia CNTT trong chính sách giáo dục với sự đầu tư rất quy mô về tài chính. Với mục tiêu tích hợp CNTT vào quá trình DH nhằm xây dựng trường học thông minh. Đối với các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Malaysia, Philippines, Ấn Độ.
chính sách phát triển CNTT trong giáo dục được liên kết với chính sách và kế hoạch tổng thể về CNTT của quốc gia. Ở Thái Lan, Nhật Bản từ năm 1998 đã triển khai mạnh mẽ việc thành lập các cơ sở GDTX. Nhưng ngay ở những nước này người ta cũng chưa nghiên cứu sâu về vấn đề quản lí ứng dụng CNTT trong DH.