CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU 1. Lý luận về thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1. Khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Thuế XK, thuế NK thường có tên gọi chung là thuế quan.
Đây là loại thuế mà các nước dùng để đánh vào hàng hóa xuất, nhập khẩu tại cửa khẩu nhằm huy động nguồn thu cho NSNN, bảo hộ sản xuất và can thiệp vào quá trình hoạt động ngoại thương, buôn bán trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia. Giáo trình thuế của Học viện Tài chính định nghĩa: thuế XK, thuế NK là sắc thuế đánh vào hàng hóa XK, NK theo quy định của pháp luật Việt Nam [28]. Trên cơ sở nghiên cứu sự ra đời của thuế XK, thuế NK cũng như các quan niệm về thuế XK, thuế NK ở các góc độ nghiên cứu khác nhau, có thể khái quát thành khái niệm chung về thuế XK, thuế NK như sau: thuế XK, thuế NK là một phần thu nhập được tạo ra từ các hoạt động XK, NK hàng hoá mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải đóng góp cho Nhà nước theo quy định của Pháp luật thuế XK, thuế NK nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu, quản lý điều hành của Nhà nước. Đặc điểm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu - Thuế mang tính quyền lực Nhà nước.
Nhà nước là người duy nhất có quyền đặt ra thuế XK, thuế NK qua đó để kiểm soát và điều tiết đối với hoạt động XK, NK hàng hoá và bảo hộ nền sản xuất trong nước, đồng thời để tạo nguồn thu cho NSNN. Thuế là khoản đóng góp bắt buộc cho Nhà nước mà không có sự bồi hoàn trực tiếp nào. Việc nộp thuế được thể chế bằng pháp luật mà mọi pháp nhân và thể nhân phải tuân theo. - Thuế XK, thuế NK là loại thuế gắn liền với hoạt động ngoại thương.
Việc đánh thuế XK, thuế NK thường căn cứ vào giá trị và chủng loại hàng hóa XK, NK. Giá trị hàng hóa XK, NK được xác định làm căn cứ tính thuế XK, thuế NK là giá trị 5 cuối cùng của hàng hóa tại cửa khẩu xuất (đối với thuế XK) và giá trị hàng hóa tại cửa khẩu nhập đầu tiên (đối với hàng hóa NK) - Thuế XK, thuế NK chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố quốc tế như sự biến động kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế. Những yếu tố này sẽ tác động trực tiếp tới hàng hóa XK, NK của các quốc gia. Ngoài ra, thuế chứa đựng các yếu tố kinh tế xã hội.
Điều này được thể hiện ở chỗ thuế XK, thuế NK là một phần của cải của xã hội, mức huy động thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vào ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế của đất nước, nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước đặt ra trong mỗi thời kỳ. - Thuế XK, NK đánh vào hàng hóa qua cửa khẩu biên giới, hàng hóa được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước - Thuế XK, thuế NK là một loại thuế gián thu. Nhà nước sử dụng thuế XK, thuế NK để điều chỉnh hoạt động ngoại thương thông qua việc tác động vào cơ cấu giá cả của hàng hóa XK, NK. Vì vậy, thuế XK, NK là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá XK, NK, người nộp thuế là người thực hiện hoạt động XK, NK hàng hóa; người chịu thuế là người tiêu dùng hàng hoá XK, NK đó, Nhà nước thu thuế XK, thuế NK của người tiêu dùng gián tiếp thông qua người cung cấp hàng hoá XK, NK.
Vai trò của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Thuế XK, thuế NK nằm trong hệ thống thuế quốc gia cho nên cũng có vai trò của thuế nói chung, đó là tạo nguồn thu cho NSNN và góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Dưới góc độ một sắc thuế cụ thể, vai trò của thuế XK, thuế NK được thể hiện khác nhau tùy theo thực trạng phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ, cụ thể như sau: Một là, thuế XK, thuế NK tạo nguồn thu NSNN. Thuế XK, thuế NK là một nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước. Thông qua thu thuế XK, thuế NK Nhà nước huy động một phần thu nhập được tạo ra từ hoạt động XK, NK hàng hoá để tập trung vào NSNN.
Tùy thuộc vào từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử khác nhau, sự phát triển kinh tế đối ngoại và quan điểm sử dụng mà thuế XK, thuế NK có 6 vai trò khác nhau ở những quốc gia khác nhau trong việc tạo lập nguồn thu cho NSNN. Đối với các nước phát triển, số thu từ thuế XK, thuế NK chiếm một tỷ trọng không đáng kể trong tổng thu NSNN. Ở các nước đang phát triển, thuế XK, thuế NK luôn chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng thu NSNN. Ở Việt Nam, trong những năm qua, thuế XK, thuế NK chiếm khoảng 25-30% trong tổng thu về thuế.
Tuy nhiên, kể từ khi thực hiện chủ trương cải cách thuế và thực hiện các cam kết cắt giảm thuế với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên minh Châu Âu (EU). nguồn thu về thuế XK, thuế NK giảm dần trong tổng thu về thuế. Hai là, thuế XK, thuế NK góp phần để Nhà nước kiểm soát và điều tiết đối với hoạt động XK, NK hàng hoá. Hoạt động XK, NK hàng hóa có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế nội địa.
Nó mang lại cho đất nước nhiều nguồn lợi lớn về vốn, kỹ thuật, công nghệ, hàng hóa, góp phần giải quyết các vấn đề của kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, hoạt động XK, NK mở rộng, nếu không được kiểm soát, sẽ dẫn đến tác hại đối với kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trong nền kinh tế thị trường hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá diễn ra ở hầu khắp các nước, dưới nhiều hình thức đa dạng về chủng loại hàng hoá, có hàng hoá phục vụ an ninh quốc phòng, có hàng hoá phục vụ nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, có loại hàng hoá xâm hại đến chủ quyền an ninh quốc gia, đời sống nhân dân như ma tuý, vũ khí, văn hoá phẩm đồi truỵ… Thông qua việc kiểm tra hàng hóa và thu thuế đối với hàng hoá XK, NK các cơ quan chức năng nắm được thực trạng hàng hoá XK, NK: loại hàng gì? số lượng bao nhiêu? xuất khẩu đi nước nào?. Nhờ các thông tin này Nhà nước kiểm soát được toàn bộ các loại hàng hoá XK, NK, để có những điều chỉnh chính sách đối với hàng hoá XK, NK phù hợp thực tiễn.
Ba là, bảo hộ sản xuất trong nước. Hoạt động NK ở quy mô lớn có thể gây ra những tác động tiêu cực đối với sản xuất nội địa, đặc biệt đối với nền kinh tế đang phát triển, chưa đủ sức cạnh tranh với nước ngoài. Vì vậy, ở các quốc gia chậm phát triển hoặc đang phát triển, thuế XK, thuế NK là một trong những công cụ của nhà nước để bảo hộ sản xuất trong nước. Đối với những hàng hoá NK là những sản phẩm mà trong nước đã sản xuất được hoặc những mặt hàng cần bảo hộ, Nhà nước đánh thuế NK cao để hạn chế tiêu dùng hàng NK, khuyến khích tiêu dùng sản 7 phẩm trong nước.
Nhờ đó, hàng sản xuất trong nước sẽ có điều kiện cạnh tranh so với hàng NK nhờ giá bán sản phẩm thấp hơn. Mặt khác, khi đánh thuế NK hàng hóa thấp, tức là Nhà nước không hạn chế NK mặt hàng NK đó sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, kiện toàn tổ chức, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh với hàng ngoại nhập. Đối với hàng hoá là đầu vào của các ngành sản xuất trong nước, hàng là máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất trong nước, việc đánh thuế NK thấp sẽ góp phần giảm giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước. Như vậy, thông qua công cụ thuế XK, thuế NK Nhà nước thể hiện quan điểm bảo hộ sản xuất trong nước, định hướng tiêu dùng và thu hút đầu tư.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế, các cam kết quốc tế về cắt giảm thuế NK được thực hiện thì vai trò bảo hộ của thuế NK phần nào bị hạn chế. Bên cạnh đó, việc quá nhấn mạnh đến vai trò bảo hộ của thuế NK sẽ làm cho nền sản xuất trong nước trở nên trì trệ, kém phát triển do sự ỷ lại của các doanh nghiệp trong nước vào sự bảo hộ của Nhà nước. Vì vậy, để phát huy tốt vai trò bảo hộ của thuế NK buộc phải có sự lựa chọn bảo hộ những ngành nghề phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước, đồng thời buộc các ngành được bảo hộ phải có chiến lược đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý để nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, chủ động trong cạnh tranh với hàng NK khi hết thời hạn bảo hộ. Bốn là, khẳng định chủ quyền quốc gia và chống phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế.
Vai trò này của công cụ thuế XK, thuế NK được thể hiện ở chỗ, bất kể một loại hàng hoá nào khi NK vào Việt Nam đều phải khai báo, xuất trình để kiểm tra và nộp thuế (nếu có), mọi hành động phân biệt đối xử của nước ngoài đối với hàng hoá của Việt Nam nếu làm tổn hại đến nền sản xuất trong nước thì đều phải chịu các biện pháp trả đũa thông qua việc áp dụng thuế XK, thuế NK bổ sung. Phương pháp và căn cứ tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu * Các phương pháp tính thuế XK, thuế NK Phương pháp tính thuế theo tỷ lệ: Là phương pháp tính thuế mà số thuế XK, thuế NK được ấn định theo tỷ lệ % của trị giá hàng XK, NK. Tỷ lệ % ở đây được quy định cao hay thấp tuỳ theo từng loại hàng hoá XK, NK. 8 Phương pháp tính thuế theo đơn vị hàng hoá (thuế tuyệt đối): Là phương pháp tính thuế mà số thuế XK, thuế NK được ấn định cụ thể trên một đơn vị hàng hoá XK, NK.
Đơn vị tính thuế có thể là chiếc, cái, tấn, m 3… mà không quan tâm đến trị giá mua của hàng hoá XK, NK đó.600 USD/ chiếc xe tô tô có dung tích động cơ dưới 1000ml, 20USD/ m2 kính xây dựng.