Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Thực trạng pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu , thuế nhập khẩu ở Việt Nam và thực tiễn thi hành tại cục hải quan thành phố Đà Nẵng. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế XK, thuế NK và nâng cao hiệu quả quản lý thuế XK, thuế NK tại Cục Hải quan TP Đà Nẵng. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU 1.
Những vấn đề lý luận về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: 1. Khái niệm, đặc điểm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: * Khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Trong xu thế hội nhập quốc tế nước ta đã và đang từng bước hòa mình để phát triển kinh tế và mở rộng quan hệ đối ngoại.Việc buôn bán, trao đổi hàng hóa giữa nước ta với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới ngày càng đa dạng phong phú. Mỗi quốc gia độc lập và có chủ quyền đều sử dụng một loại thuế thu vào hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới và cửa khẩu của quốc gia mình. Thuế đánh vào hàng hóa trong các trường hợp này được gọi chung là thuế quan.
Trong hệ thống pháp luật của Việt Nam thì thuế quan được gọi với tên chung là thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và là loại thuế độc lập trong hệ thống pháp luật thuế Việt Nam cũng như các nước trên thế giới. Đây là loại thuế ngoài chức năng huy động nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước (NSNN) còn bảo hộ sản xuất, cân đối nền kinh tế và can thiệp vào quá trình hoạt động ngoại thương, buôn bán trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia. Luật Thuế XK, NK hàng mậu dịch 1987 là luật thuế đầu tiên được Quốc hội khóa VIII thông qua; Đây là loại thuế đầu tiên của nước CHXHCNVN được ban hành bằng hình thức luật khá hoàn chỉnh nhằm tăng cường các hoạt động XK, NK; Trong những năm tiếp theo do sự thay đổi của chính sách kinh tế và hoàn cảnh kinh tế xã hội của đất nước mà Nhà nước ta đã ban hành luật thuế XK, NK có sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với nền kinh tế của từng giai đoạn vào các năm 1991, 1993, 1998, 2005; Và cho đến thời điểm hiện nay, chưa có một khái niệm đồng nhất về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Theo từ điển kinh tế học (Anh - Việt giải thích): “Thuế nhập khẩu là khoản thuế mà Chính phủ đánh vào sản phẩm nhập khẩu.
Thuế nhập khẩu được sử dụng để tăng nguồn thu cho Chính phủ và bảo vệ các ngành sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài”. [34] 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Từ điển Luật học: “Thuế XNK là một loại thuế gián thu đánh vào các loại hàng hoá XNK qua biên giới”.[34] Trên cơ sở nghiên cứu các quan niệm về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, có thể hiểu khái niệm chung về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu như sau: Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu, một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá, là một phần thu nhập được tạo ra từ các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa mà các tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật về thuế XK, thuế NK quy định nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội. * Đặc điểm của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Từ khái niệm về thuế XK, thuế NK cho thấy thuế XK, thuế NK cũng có những đặc điểm của thuế nói chung, đó là: Thứ nhất, mang tính quyền lực Nhà nước. Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền đặt ra thuế XK, thuế NK qua đó để kiểm soát và điều tiết đối với hoạt động XK, NK hàng hoá và bảo hộ nền sản xuất trong nước, đồng thời để tạo nguồn thu cho NSNN.
Thứ hai, mang tính pháp lý cao. Thuế là khoản đóng góp bắt buộc cho Nhà nước mà không có sự bồi hoàn trực tiếp nào, việc nộp thuế được thể chế bằng pháp luật mà mọi pháp nhân và thể nhân phải tuân theo. Thứ ba, chứa đựng các yếu tố KT - XH. Điều này được thể hiện ở chỗ thuế XK, thuế NK là một phần của cải của xã hội, mức huy động thuế XK, thuế NK vào ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế của đất nước, nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và các mục tiêu KT - XH của đất nước đặt ra trong mỗi thời kỳ.
Ngoài những đặc điểm chung, thuế XK, NK còn có đặc điểm riêng là: - Thuế XK, thuế NK đánh vào hàng hoá được phép XK, NK qua biên giới của một nước, kể cả hàng hoá được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan đưa vào tiêu thụ trong nước. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thuế XK, thuế NK là một loại thuế gián thu. Nhà nước sử dụng thuế XK, thuế NK để điều chỉnh hoạt động ngoại thương thông qua việc tác động vào cơ cấu giá cả của hàng hóa XK, NK. Vì vậy, thuế XK, thuế NK là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa XK, NK; người nộp thuế là người thực hiện hoạt động XK, NK hàng hóa; người chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa XK, NK.
Nhà nước thu thuế XK, thuế NK của người tiêu dùng gián tiếp thông qua người cung cấp hàng hóa XK, NK. Khái niệm, vai trò của quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: 1. Khái niệm quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một trong những lĩnh vực quản lý chuyên ngành. Vì vậy, để tiếp cận khái niệm quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trước hết cần tiếp cận khái niệm quản lý.
Theo Từ điển tiếng Việt, quản lý là “Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Dưới góc độ chung của các chuyên ngành khoa học “Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho một hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý và nhằm đạt được những mục đích đã định trước” [45, tr. Trong cuốn giải thích thuật ngữ pháp lý Việt Nam có giải thích: “quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra của tổ chức. Nó nhằm chỉ một tập hợp các hoạt động cần thiết phải được thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu chung” [45, tr.
Mary Parker Follett (1868-1933) cho rằng quản lý là “Nghệ thuật đạt được các mục tiêu của tổ chức thông qua con người” Nhìn chung, các khái niệm về quản lý đều thống nhất rằng, đã nói đến quản lý là nói đến các hoạt động và một loạt các nhiệm vụ mà người quản lý phải liên tục đảm nhận và giải quyết. Đó là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra, kiểm soát bao gồm cả mục tiêu, kết quả và hiệu năng hoạt động của một tổ chức, nghĩa là nói tới quản lý là nói tới kết quả đạt được với chất 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lượng tốt nhất và chi phí thấp nhất chứ không chỉ là những quy trình thực hiện các thao tác kỹ thuật đơn thuần. Trong đó, các nguồn lực có thể được sử dụng cho quản lý gồm nhân lực, tài chính, công nghệ. Quản lý thuế là một dạng của quản lý xã hội kể từ khi có nhà nước và gắn với quyền lực nhà nước.
Quản lý thuế trước hết và quan trọng nhất thuộc trách nhiệm của nhà nước cho nên người ta thường quan niệm quản lý thuế là quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế. Vậy, xét theo nghĩa rộng, quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có thể được hiểu là quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là việc nhà nước tác động có tổ chức và bằng pháp quyền đối với các quá trình kinh tế xã hội và hành vi của con người nhằm thực hiện các mục tiêu chung thông qua công cụ thuế quan. Còn xét trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được hiểu theo nghĩa hẹp là việc cơ quan Hải quan sử dụng quyền lực nhà nước để tổ chức thực hiện các quy định về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hoá xuất nhập khẩu. Vai trò của quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu * Đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước Quản lý nhà nước đối với thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhằm đảm bảo nguồn thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được đầy đủ, chính xác, kịp thời, thường xuyên, ổn định cho Ngân sách nhà nước.
Thuế luôn là nguồn thu quan trọng và chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng số thu Ngân sách nhà nước của hầu hết các quốc gia. Nguồn huy động tập trung thông qua thuế là một bộ phận của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. Nhờ đó, một bộ phận thu nhập của xã hội được tập trung vào ngân sách nhà nước để đảm bảo nhu cầu chi tiêu, giúp nhà nước thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình. Nguồn thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn thu ngân sách quốc gia.
Đảm bảo nguồn thu từ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là vai trò quan trọng hàng đầu của công tác quản lý nhà 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là nhà nước cần phải tăng thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bằng mọi giá. Một tỉ lệ thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hợp lý và ổn định sẽ vừa kích thích nền kinh tế phát triển, hiệu quả vừa đảm bảo nguồn lực tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Vì vậy, vai trò đảm bảo nguồn thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một trong những vai trò quan trọng.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, với xu thế hội nhập và cắt giảm thuế quan thì nguồn thu từ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ngày càng giảm, vì vậy việc quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu và đảm bảo nguồn thu là rất khó.