Chương I: Cơ sở lý luận về thuế GTGT và quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Cục Thuế tỉnh Thừa Thiên Huế. Chương II: Thực trạng công tác quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Cục Thuế tỉnh Thừa Thiên Huế. Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Cục Thuế tỉnh Thừa Thiên Huế. Phần III: Kết luận và kiến nghị SVTH: Lê Thị Thủy Tiên 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Lê Ngọc Anh Vũ PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GTGT 1. Tổng quan về Thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế giá trị gia tăng - vào năm 1954. Thuế giá trị gia tăng theo tiếng Pháp gọi là: Taxe Sur La Valeur Ajou tée (viết tắt là TVA), tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắt là VAT), dịch ra tiếng Việt là thuế giá trị gia tăng.
Khai sinh từ nước Pháp, thuế giá trị gia tăng đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Ngày nay, các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, châu Phi, châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia Châu á trong đó có Việt Nam đã chính thức áp dụng thuế giá trị gia tăng .Các quốc gia khác cũng đang trong thời kỳ nghiên cứu loại thuế này.Tính đến nay đã có khoảng 130 quốc gia áp dụng thuế giá trị gia tăng. Theo Điều 2, Luật Thuế GTGT số 13/2008/QH12 do Quốc Hội nước ta ban hành ngày 03/06/2008 và cũng là văn bản luật hiện nay đang áp dụng, Thuế GTGT được định nghĩa như sau: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” Ở nước ta, Thuế GTGT được ban hành thành Luật ngày 10/05/1997 tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa IX và chính thức có hiệu lực kể từ 01/01/1999, nhằm khắc phục nhược điểm của Luật Thuế doanh thu. Trong quá trình thực hiện, Luật thuế GTGT đã được sửa đổi bổ sung để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và công tác quản lý Thuế qua từng thời kỳ.
GTGT được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị HHDV bán ra với tổng giá trị HHDV mua vào tương ứng trong kỳ tính thuế: SVTH: Lê Thị Thủy Tiên 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Ngọc Anh Vũ Giá trị Giá trị hàng hóa, Giá trị hàng hóa, = - gia tăng dịch vụ bán ra dịch vụ mua vào tương ứng Số thuế GTGT của HHDV suất thuế GTGT = x GTGT chịu thuế của HHDV đó 1. Đặc điểm của Thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT có đối tượng chịu thuế rất lớn. Mọi đối tượng tồi tại trong xã hội, kể cả cá nhân hay tổ chức cũng đều phải chi trả thu nhập của mình.
Việc đánh thuế trên phạm vi lãnh thổ với mọi đối tượng thể hiện sự công bằng của Thuế. Thuế GTGT là loại thuế gián thu đánh vào đối tượng tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người chịu thuế GTGT, là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa và dịch vụ, là khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp. Người mua sẽ không nộp trực tiếp thuế vào NSNN mà thông qua việc thanh toán hàng hóa, dịch vụ. Tính gián thu của thuế GTGT biểu hiện ở việc người mua HHDV là người phải trả khoản thuế này thông qua giá mua của HHDV.
Như vậy, người mua không trực tiếp nộp thuế GTGT vào NSNN mà trả tiền thuế thông qua giá thanh toán HHDV cho người bán, trong đó bao gồm cả khoản thuế GTGT mà người mua trả. Người bán thực hiện việc nộp khoản thuế GTGT phải nộp đã được người mua trả vào NSNN. Thuế GTGT đánh vào giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó. Tổng số thuế GTGT thu được các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
Thuế GTGT là loại thuế có tính trung lập cao, biểu hiện ở hai khía cạnh: - Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người thay mặt người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN. - Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá SVTH: Lê Thị Thủy Tiên 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Ngọc Anh Vũ trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít. Về phạm vi đánh thuế: Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ.
Vai trò của Thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT là công cụ quan trọng để điều tiết nền kinh tế vĩ mô, tạo được nguồn thu ổn định cho ngân sách của nhà nước góp phần để phát triển kinh tế - xã hội. Thuế GTGT là khoản thu quan trọng của ngân sách Nhà nước. Thuế GTGT có tác dụng điều tiết thu nhập của tổ chức, cá nhân tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT. Thuế GTGT không trùng lắp, do thuế GTGT chỉ tính vào giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ qua các khâu sản xuất, lưu thông, tiêu dùng, không tính phần giá trị đã chịu thuế GTGT ở các khâu trước, thuế đã nộp ở các khâu trước được tính trừ ở các khâu sau nên khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, khuyến khích chuyên môn hóa, hợp tác hóa sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế, phù hợp với phát triển kinh tế thị trường.
Khuyến khích các tổ chức, các nhà đầu tư, xuất khẩu, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, chuyên môn hóa, hợp tác hóa sản xuất nâng cao hiệu quả kinh tế, phù hợp với phát triển kinh tế thị trường. Khuyến khích xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ thông qua áp dụng thuế suất 0%, doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ không phải chịu thuế GTGT ở khâu xuất khẩu mà còn được hoàn toàn bộ số thuế đầu vào đã thu ở khâu trước. Thúc đẩy chế độ hạch toán kế toán, sử dụng hóa đơn chứng từ và thanh toán qua ngân hàng. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao.
Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế, làm cho hệ thống chính sách thuế từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập kinh tế của SVTH: Lê Thị Thủy Tiên 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Ngọc Anh Vũ nước ta với khu vực và thế giới. Nội dung của Thuế giá trị gia tăng 1. Đối tượng chịu thuế GTGT Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cà hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT tại Điều 4 của Luật này.
Người nộp thuế Người nộp thuế GTGT là tổ chức, các nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT (sau đây gọi là nhập khẩu). Căn cứ tính thuế. Căn cứ tính thuế Giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất. - Giá tính thuế: Giá tính thuế được quy định như sau: + Đối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế Giá trị gia tăng.
Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế Giá trị gia tăng; + Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu. Trường hợp hàng hóa được miễn, giảm thuế thu nhập thì giá tính thuế GTGT là giá nhập khẩu (+) với thuế nhập khẩu xác định theo mức thuế phải nộp sau khi đã được miễn, giảm. + Đối với sản phẩm, hàng hóa dịch vụ (kể cả mua ngoài hoặc cơ sở kinh doanh tự sản xuất) dùng để trao đổi, biếu, tặng, cho, tra lương, là giá tính thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này.
+ Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mãi theo quy định của SVTH: Lê Thị Thủy Tiên 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Ngọc Anh Vũ pháp luật về thương mại, giá tình thuế được xác định bằng không (0) + Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền cho thuê chưa có thuế Giá trị gia tăng; Trường hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trước tiền thuê cho một thời hạn thuê thì giá tính thuế là tiền cho thuê trả từng kỳ hoặc trả trước cho thời hạn thuê chưa có thuế Giá trị gia tăng; Trường hợp thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải của nước ngoài loại trong nước chưa sản xuất được để cho thuê lại, giá tính thuế được trừ giá thuê phải trả cho nước ngoài; + Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm là giá tính theo giá bán trả một lần chưa có thuế Giá trị gia tăng của hàng hoá đó, không bao gồm khoản lãi trả góp, lãi trả chậm; + Đối với gia công hàng hoá là giá gia công chưa có thuế Giá trị gia tăng; + Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, hạng mục công trình hay phần công việc thực hiện bàn giao chưa có thuế Giá trị gia tăng.