CHƯƠNG I THUẾ GTGT VÀ HIỆU QUẢ THU THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh.Vị trí, vai trò và đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh (NQD) trong nền kinh tế quốc dân: 1.Vị trí, vai trò của doanh nghiệp NQD: Từ Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986), với chủ trương đổi mới nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã xác định phát tiển nền kinh tế Việt Nam theo hướng kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, với nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại, trong đó có thành phần kinh tế tư bản tư nhân. Sau đó, tại các Đại hội Đảng lần thứ VII và VIII, đường lối phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN với nhiều thành phần kinh tế tiếp tục được khẳng định. Từ đó, các thành phần kinh tế thuộc khu vực kinh tế dân doanh bao gồm: kinh tế hợp tác, kinh tế hộ kinh doanh phát triển mạnh.
Ngoài ra còn xuất hiện thêm thành phần kinh tế tư bản tư nhân với các loại hình công ty TNHH, công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân. Theo số liệu thống kê, tính đến hết năm 2005, khu vực kinh tế dân doanh bao gồm khoảng 250.000 công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân; 25.000 HTX hoạt động dịch vụ, sản xuất thương mại và khoảng 2,7 triệu hộ sản xuất kinh doanh cá thể, thu hút trên 6 triệu lao động, đóng góp gần 40% tổng sản phẩm quốc nội và nộp ngân sách khoảng từ 10% - 11% trên tổng số thu, chiếm 13% - 14% trên tổng số thu nội địa, trừ dầu và các loại thuế xuất nhập khẩu, thuế nhà đất, phí, lệ phí. 4 Luan van Kinh tế dân doanh phát triển, đặc biệt là các loại hình doanh nghiệp phát triển mạnh đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước như chủ trương xoá đói, giảm nghèo, phân bố lại cơ cấu nền kinh tế, dần xoá bỏ sự tách biệt giữa thành thị và nông thôn. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định đường lối và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới: đẩy mạnh CNH-HĐH, xây dựng và phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, mạnh, có hiệu quả và bền vững, nhằm tăng trưởng kinh tế.
Về quan hệ sản xuất, Đảng ta chủ trương thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Cụ thể hoá đường lối phát triển kinh tế do Đại hội IX đề ra, hội nghị lần thứ V ban chấp hành TW khoá IX đã có Nghị quyết riêng về phát triển kinh tế hợp tác, HTX, kinh tế tư nhân. Trong đó, khẳng định phát triển kinh tế hợp tác, HTX là vấn đề hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội; phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, trên cơ sở đánh giá những ưu điểm của thành phần kinh tế dân doanh, đánh giá những tiềm năng phát triển, phân tích các nguyên nhân kìm hãm.
Nghị quyết TW lần thứ V của Đảng đã chỉ ra những giải pháp cơ bản để phát triển các thành phần kinh tế này trong thời gian tới, trong đó có những giải pháp về tài chính nói chung và về thuế nói riêng. Như vậy, bằng sự khẳng định trong đường lối nêu tại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và những giải pháp cụ thể nêu tại Nghị quyết TW lần thứ V, khu vực kinh tế dân doanh sẽ phát triển nhanh chóng và đóng vai trò quan trọng 5 Luan van trong việc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.Đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế NQD: Có thể thấy rằng, các doanh nghiệp dù là thuộc khu vực kinh tế dân doanh hay Nhà nước đều lấy lợi nhuận là mục tiêu, là thước đo hiệu quả của hoạt động SXKD, cùng hoạt động theo cơ chế thị trường có sự hướng dẫn của Nhà nước cùng tồn tại và cạnh tranh trong môi trường pháp lý. Tuy nhiên, xét về góc độ quản lý, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý thuế, có những đặc điểm riêng của các doanh nghiệp ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế, thường là những thách thức nhiều hơn là những thuận lợi. Thứ nhất là đặc điểm về sở hữu: Đây là đặc điểm khác biệt nhất, đối với khu vực kinh tế dân doanh (trừ khối hợp tác), toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc sở hữu tư nhân.
Chủ doanh nghiệp hoặc chủ sở hữu SXKD chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các quy định của cơ quan Nhà nước hoặc từ cơ quan quản lý, do vậy họ luôn tìm mọi cách để có thể đạt được lợi nhuận cao nhất, kể cả việc trốn lậu thuế. Thứ hai là đặc điểm về trình độ văn hoá, trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ: So với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế đầu tư nước ngoài thì phần lớn những người chủ các doanh nghiệp NQD có trình độ văn hoá chưa cao, chưa được đào tạo chính quy về các nghiệp vụ quản lý, trình độ chuyên môn chủ yếu là tự học hoặc theo kinh nghiệm. Vì vậy, nhìn chung hiệu quả SXKD của các doanh nghiệp NQD còn thấp, số đông các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ có mục đích chính là mua đi, bán lại để kiếm chênh lệch giá; còn một số lượng nhỏ hoạt động ở lĩnh vực sản xuất thì trình độ công nghệ thấp, trình độ quản lý không cao, do đó năng suất lao động và chất lượng hàng hoá đạt được là không cao. 6 Luan van Thứ ba là đặc điểm về ý thức tuân thủ pháp luật: Xuất phát từ trình độ còn hạn chế nêu trên, cho nên phần lớn các chủ doanh nghiệp có trình độ nhận thức về pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng là rất thấp, biểu hiện rõ nhất là số đông các cơ sở kinh doanh không lập và giữ sổ sách kế toán theo quy định.
Thứ tư là đặc điểm về số lượng đối tượng: Số lượng các cơ sở kinh doanh rất lớn, hoạt động sản xuất kinh doanh ở tất cả mọi lĩnh vực của nền kinh tế, từ sản xuất, gia công, chế biến, xây dựng, vận tải. đến các loại hình thương nghiệp, dịch vụ và được trải rộng trên khắp các địa bàn trong cả nước. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: 1. Thất thu thuế và các hình thức thất thu thuế: a) Khái niệm thất thu thuế: Thất thu thuế là hiện tượng trong đó những khoản tiền từ những tổ chức, cá nhân có tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh cần phải được động viên vào NSNN, song vì những lý do xuất phát từ phía Nhà nước, cơ quan thuế hay chính những đối tượng nộp thuế gây ra mà những khoản tiền đó không được nộp vào NSNN.
Như vậy, thất thu thuế có thể hiểu là số thực thu vào NSNN thấp hơn số thuế lẽ ra phải thu trong khoảng thời gian đó. b) Các hình thức thất thu thuế: Về mặt pháp lý, thất thu thuế được phân làm 2 loại là thất thu tiềm năng và thất thu thực tế. + Thất thu tiềm năng: Là thực trạng có nhiều nguồn thu cần thiết phải động viên, đóng góp cho NSNN, nhưng không được thu vì pháp luật chưa quy định chế độ thu. + Thất thu thực tế: Được hiểu là có nhiều khoản được pháp luật quy định rõ, nhưng trên thực tế lại không thu được do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Trong đó, 7 Luan van một phần là do chính sách, chế độ thuế chưa thực sự phù hợp, do tổ chức và biện pháp quản lý thu thuế kém hiệu quả; một phần là do đối tượng nộp thuế cố ý hoặc vô tình không làm tốt nghĩa vụ về thuế đối với Nhà nước. c) Nguyên nhân dẫn đến thất thu thuế: * Nguyên nhân khách quan: - Do những đặc điểm cơ bản của các doanh nghiệp trong thành phần kinh tế dân doanh là sở hữu tư nhân, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ công nghệ, trình độ quản lý, ý thức chấp hành pháp luật chưa cao, số lượng đối tượng nhiều, trải rộng trên khắp các vùng miền trong cả nước làm cho công tác quản lý thuế phức tạp và gặp nhiều khó khăn. - Do các cơ chế quản lý khác chưa đồng bộ, chưa hỗ trợ tích cực cho công tác quản lý thu thuế, có nhiều cơ chế quản lý còn quá thông thoáng dẫn đến sơ hở cho các cơ sở kinh doanh lợi dụng. Như việc các doanh nghiệp vẫn được phép thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế thị trường; Luật doanh nghiệp không có ràng buộc về lý lịch người sáng lập hoặc người điều hành doanh nghiệp.
- Thu thuế để Nhà nước có nguồn kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chi tiêu cho bộ máy hành chính nhằm thực hiện các mục tiêu của Đảng, Nhà nước đề ra. Như vậy, các cơ quan quản lý Nhà nước đang trực tiếp sử dụng tiền thuế thu được để chi tiêu, dù trực tiếp hay gián tiếp thì tiền thuế thu được là để phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội, nhưng nhận thức của các cấp, các ngành và của nhân dân còn hạn chế, họ thường quan niệm việc thu thuế là công việc riêng của ngành thuế. Vì vậy việc thu thuế của Nhà nước còn chưa nhận được sự đồng tình ủng hộ. Chúng ta phải làm sao để việc thu thuế trở thành nhiệm vụ chung của các cấp các ngành.