Chương 1: Tổng quan về quản lý thuế Giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế Giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế Bắc Nghệ II trên địa bàn huyện Diễn Châu Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế Giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế Bắc Nghệ II CHUONG 1: TONG QUAN VE QUAN LÝ THUÊ GIA TRI GIA TANG DOI VOI DOANH NGHIEP NGOAI QUOC DOANH 1. Những van dé cơ ban về thuế Giá tri gia tăng 1. Khát niệm Thuế giá tri gia tăng, tên tiếng anh là Value Added Tax, là loại thuế được phát minh tại Pháp năm 1954 bởi Maurice Lauré. Khi mới bắt đầu chỉ có 2 nước 4 là Phần Lan và Pháp áp dụng nhưng tính đến nay đã có trên 150 quốc gia sử dụng loại thuế này.
Ở một số quốc gia, thuế GTGT còn được biết đến với tên gọi như “goods and services tax”, nghĩa là thué hàng hóa va dịch vu, hoặc được gọi là thuế tiêu thụ tại Nhật Bản. Ở Việt Nam, từ ngày 01/01/1999 thì thuế GTGT được chính thức áp dụng theo Luật thuế GTGT ban hành ngày 10/05/1997. Sự ra đời của thuế GTGT sẽ thay thé cho thuế doanh thu và được áp dụng cho các hoạt động SXKD và dịch vụ. Qua nhiều lần sửa đổi bổ sung vào các năm 2000, 2003 và 2005 thì Luật thuế GTGT ban hành năm 2008 là luật thuế hiện đang có hiệu lực.
Theo Luật thuế GTGT ban hành ngày 03/06/2008 thì: “Thuế Giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Đặc điểm của thuế Giá trị gia tăng Thứ nhất, thuê GTGT là thuế gián thu. Tính gián thu được thé hiện ở chỗ thuế GTGT không đánh trực tiếp vào cá nhân, doanh nghiệp như thuế trực thu mà đánh vào dịch vụ và hàng hóa, nghĩa là đối tượng chịu thuế GTGT chính là dịch vụ và hàng hóa sử dụng cho kinh doanh, sản xuất và tiêu dùng. Hơn nữa, thuế GTGT không thu trực tiếp từ người tiêu dùng mà được thu thông qua người cung cấp dịch vụ và buôn bán hàng hóa.
Bên cạnh đó, người nộp thuế và người chịu thuế GTGT khác nhau. Theo Luật thuế GTGT ban hành ngày 03/06/2008 thì: “người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT.” Còn người chịu thuế chính là người sử dụng và tiêu dùng HHDV cuối cùng. Thứ hai, thuế GTGT là thuế tiêu dùng đánh vào các công đoạn từ lúc sản xuất đến lúc tiêu dùng nhưng không đánh trùng. Phần thuế GTGT đã tính ở khâu trước thì đến khâu phía sau không được tính vào mà sẽ được khấu trừ, làm cho tổng số thuế cuối cùng mà người tiêu dùng phải nộp bằng tổng số thuế đã nộp ở trong các khâu đó.
Thứ ba, thuê GTGT có tính lũy thoái so với thu nhập. Đặc điểm đó của thuế GTGT thé hiện ở chỗ khi thu nhập tăng thì tỷ lệ số thuế GTGT phải nộp so với thu nhập lại giảm đi. Điều này dẫn đến những người nghèo có thu nhập thấp thì tỷ lệ đó lại ở mức cao hơn so với những người giàu có mức thu nhập cao. Vậy nên nếu xét về tính công bằng thì thuế GTGT là thé hiện tính không công bang.
Thứ tư, thuế GTGT được đánh theo nguyên tắc điểm đến, tức là nếu dịch vụ và hàng hóa đó cứ tiêu thụ nội địa thì sẽ bị đánh thuế, không kế đó là hàng nhập khẩu hay hàng được sản xuất trong nước. Do đó HHDV nhập khâu cũng sẽ chịu thuế GTGT như dịch vụ và hàng hóa sản xuất nội địa ngoài việc bị đánh thuế nhập khâu. Ngược lại, các dịch vụ, hàng hóa xuất khâu do không tiêu thụ nội địa nên không bị đánh thuế hoặc nếu bị đánh thuế các khâu trước đó thì sẽ được hoàn thuế. Với những HHDV xuất khâu được hoàn thuế GTGT thì chịu thuế suất thuế GTGT là 0%.
Thứ năm, phạm vi điều tiết của thuế GTGT khá rộng. Vì là thuế tiêu dùng nên thuế GTGT tính thuế hau hết các dịch vụ và hàng hóa được tiêu dùng hàng ngày, phục vụ cho sinh hoạt và đời sống. Hơn nữa, những đối tượng là HHDV không phải chịu thuế GTGT rất ít. Do đó đối tượng chịu thuế GTGT rất đa dạng, phong phú và có phạm vi rộng.
Vai trò của thuế Giá trị gia tăng Thứ nhất, thuế GTGT là nguồn thu lớn, ôn định cho NSNN, bảo đảm nguồn lực dé phát triển kinh tế, góp phần củng có, tăng cường nền quốc phòng an ninh. Như đã đề cập ở trên, thuế GTGT được tính trên hầu hết các dịch vụ, hàng hóa được dùng trong cuộc sông hàng ngày. Đối tượng nộp thuế là các cá nhân, tô chức SXKD hoặc nhập khẩu những dịch vụ và hàng hóa đó. Do đó, số thu NSNN từ thuế GTGT khá lớn.
Thứ hai, thuê GTGT góp phần thúc đây các doanh nghiệp tuân thủ, thực hiện nghiêm chỉnh chế độ kế toán, hạch toán chính xác hóa đơn chứng từ. Theo quy định của Luật thuế GTGT, một trong những điều kiện để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào là phải có hóa đơn mua vào hợp pháp của HHDV hoặc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với những hóa đơn mua hàng có tổng giá trị trên 20 triệu đồng,. Cá nhân, tổ chức nếu đáp ứng được các điều kiện trên thì được trừ thuế đầu vào. Vì thế mà thúc đây việc phải hạch toán chính xác, lưu giữ hóa đơn và chứng từ để được trừ thuế đầu vào.
Ngoài ra còn tạo điều kiện cho CQT trong việc kiêm soát thực hiện hạch toán, tuân thủ nghĩa vụ thuế, góp phần ngăn chặn trồn thuế, giảm thiểu thất thu thuế. Thứ ba, thuê GTGT có tác dụng kích thích xuất khâu, thúc day đầu tư, sản xuất kinh doanh phát triển. Luật GTGT cho phép HH và DV xuất khâu được tính với thuế suất là 0%. Do đó khi hàng hóa, dịch vụ được xuất khẩu thì sẽ không phải nộp thuế đầu ra mà còn được hoàn thuế GTGT đầu vào.
Bên cạnh đó, các tài sản đầu tư cho dự án chưa có sản phẩm đầu ra theo định kỳ được hoàn lại thuế GTGT. Vì thế mà thuế GTGT tạo ra tác động tích cực đến hoạt động xuất khâu và hoạt động đầu tư. Quản lý thuế Giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh Theo Luật Doanh nghiệp ban hành ngày 26/01/2014 thì: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhăm mục đích kinh doanh.” Doanh nghiệp tồn tại với nhiều mục tiêu khác nhau nhưng suy cho cùng, tối đa hóa giá trị tài sản cho các chủ sở hữu là mục tiêu cuôi cùng của các doanh nghiệp.
Ở Việt Nam, nếu xét theo góc độ hình thức sở hữu tài sản thì có thể phân loại doanh nghiệp thành 2 loại: doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp có vốn điều lệ được sở hữu 100% bởi nhà nước hoặc nhà nước có phan vốn góp chi phối 6 trong đó (trên 50% vốn điều lệ). Nếu doanh nghiệp có toàn bộ vốn điều lệ do nhà nước góp và sở hữu thì doanh nghiệp đó được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, CTCP Nhà nước, công ty TNHH MTV Nhà nước, công ty TNHH Nhà nước. Trường hợp nhà nước có trên 50% vốn góp trong vốn điều lệ thì doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức CTCP hoặc công ty TNHH.
DNNN sẽ bị chi phối và quản lý bởi Nhà nước. Ngược lại với DNNN thì các doanh nghiệp NQD không bị những quyết định từ Nhà nước chi phối. Có thể định nghĩa, doanh nghiệp NQD là các doanh nghiệp mà nhà nước không sở hữu (trừ hợp tác xã). Doanh nghiệp NQD được thành lập từ vốn của một cá nhân hoặc một nhóm người hoặc có thể của nhà nước nhưng số vốn chiếm dưới 50% vốn điều lệ.
Những người này sẽ đứng ra quản lý và phải tự chịu trách nhiệm về toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp dựa trên phân tài sản mà mình góp vào. Dựa vào định nghĩa trên thì doanh nghiệp NQD sẽ bao gồm: hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty hợp danh, CTCP có vốn Nhà nước từ 50% trở xuống. Ngoài ra, các hộ kinh doanh cá thé hoạt động kinh doanh trong một số ngành nghề như nông nghiệp, thủ công, buôn bán nhỏ cũng thuộc doanh nghiệp NQD tuy nhiên số lượng rất ít so với các loại hình công ty trên. Nội dung và quy trình quản lý thuế Giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh “Quản lý thuế là quá trình hoạch định kế hoạch thuế cũng như chương trình mục tiêu, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện so với mục tiêu dé ra, pat hiện những sai sót và gian lận dé uốn nắn, chỉnh sửa trong công tác quản lý ở những kỳ tiếp theo.
Lê Xuân Trường (2010), Giáo trình Quản lý thuế, NXB Tài chính, Hà Nội). Chủ thé quản lý của hoạt động QLT là những tổ chức và cơ quan nhà nước như cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan, Kho bạc nhà nước.Đây là những chủ thê tham gia trực tiếp vào việc QLT, là những người trực tiếp đưa ra kế hoạch, chỉ đạo và giám sát việc thực hiện đó. Ngoài ra còn có các chủ thể quản lý gián tiếp cũng tham gia vào quy trình QLT như các Bộ và cơ quan ngang Bộ liên quan như Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương; các cơ quan thông tấn báo chí, truyền hình, ngân hàng.Đối tượng bị quản lý là các cá nhân, tổ chức có hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật có trách nhiệm, nghĩa vụ phải nộp tiền thuế vào NSNN. Dé quan lý đối tượng đa dang và phức tạp như thế thì cơ quan Thuế cần có công cụ quản lý và phương pháp quản lý thích hợp.
Công cụ quản lý của cơ quan thuế chính là pháp luật (đó là các Luật thuế, Luật Quản lý thuế, các nghị định, thông tư về thué.); các kế hoạch, các chính sách thuế, chính sách kinh tế đối ngoại. Phương pháp quản lý thuế gồm có phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế (như khoán, thưởng, ưu đãi.