Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể 1. Hộ kinh doanh cá thể Khái niệm: Về mặt pháp lý hộ kinh doanh cá thể được định nghĩa cụ thể trong Nghị định số 88/2006CP: Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu toàn bộ trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh (Điều 36, khoản 1). Định nghĩa trên về “hộ kinh doanh” cho thấy hộ kinh doanh chia thành ba loại căn cứ vào chủ tạo lập ra nó: Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ Hộ kinh doanh do một hộ gia đình làm chủ Hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ Nghị định số 88/2006 NĐ-CP cho phép “một nhóm người, không phải hộ gia đình, được kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh có tác dụng thúc đẩy kinh doanh nhưng nhược điểm là gây khó khăn về mặt pháp lý nhất là về chế độ trách nhiệm của cả nhóm và của từng thành viên trong nhóm.
Mỗi người góp vốn trong hộ kinh doanh đều có mã số thuế thu nhập cá nhân, mã số của người đại diện Hộ kinh doanh được sử dụng khai, nộp thuế GTGT, tiêu thụ đặc biệt, thuế môn bài… chung cho hộ kinh doanh và khai thuế thu nhập cá nhân cho người đại diện. Như vậy, Pháp luật Việt nam hiện nay đang quy định hộ kinh doanh cá thể và các hình thức công ty không khác gì nhau về hình thức kết cấu mà chỉ khác nhau về quy mô kinh doanh. Nếu hộ kinh doanh có sử dụng thường xuyên hơn mười lao động phải chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức doanh nghiệp. Đặc điểm của thành phần kinh tế cá thể - Đặc điểm về sở hữu: Hộ kinh doanh mang tính chất của một gia đình, hoạt động dựa vào vốn, tài sản và sức lao động của bản thân và hộ gia đình mình là chính.
5 - Quy mô sản xuất: Quy mô nhỏ lẻ, tản mạn, rời rạc, trình độ chuyên môn quản lý chủ yếu từ kinh nghiệm, điều kiện áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến hạn chế. - Số lượng hộ kinh doanh cá thể phát triển khá nhanh cùng với sự phát triển của nền kinh tế cả nước, hoạt động đa dạng trong mọi ngành nghề sản xuất, giao thông vận tải, thương mại, ăn uống dịch vụ. - Ý thức tuân thủ pháp luật còn thấp và luôn tìm mọi cách để tìm ra chỗ sơ hở trong quản lý kinh tế để kinh doanh trái phép, trốn lậu thuế. Đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể là dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, người chủ kinh doanh tự quyết định từ sản xuất kinh doanh đến phân phối tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ.
Hoạt động mang tính tự chủ cao, tự tìm kiếm nguồn lực, vốn, sức lao động, rất nhạy bén trong kinh doanh, dễ dàng chuyển đổi ngành nghề kinh doanh cho phù hợp với nhu cầu của thị trường và nền kinh tế. Có tiềm năng to lớn, phân bổ mọi nơi, mọi lúc, có kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất và những bí quyết truyền thống được tích lũy qua nhiều thế hệ, qua đó cho phép phát huy những ngành nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu xã hội và xuất khẩu.3 Vai trò của thành phần kinh tế cá thể đối với nền kinh tế Trong điều kiện kinh tế thị trường, hộ kinh doanh cá thể có một vai trò rất quan trọng trong nhiều ngành nghề từ nông thôn đến thành thị. Hộ KDCT góp phần tạo nhiều chủng loại sản phẩm, dịch vụ cho xã hội, đồng thời đóng vai trò làm vệ tinh cho các doanh nghiệp của nền kinh tế trong quá trình phân phối luân chuyển hàng hóa, dịch vụ. Nguồn vốn trong nhân dân rất dồi dào nhưng chưa được đầu tư để tái sản xuất, do vậy nếu có các chính sách hợp lý thì thông qua họ có thể huy động được nguồn vốn lớn đầu tư vào sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng để tích lũy, mở rộng tái sản xuất.
Đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, tình trạng thất nghiệp ngày càng tăng thì chính việc thu hút một số lượng lao động đáng kể của hộ kinh doanh cá thể đã góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp cho xã hội. 6 Hộ kinh doanh cá thể góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn giúp ổn định nền kinh tế do tận dụng được nguồn lao động dồi dào. Sự phát triển của hộ kinh doanh góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và tạo nguồn thu ổn định ngày càng tăng cho NSNN. Một số khái niệm và những vấn đề chung về thuế 1.
Khái niệm thuế Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, phản ánh bản chất của chế độ xã chủ nghĩa. Ra đời và tồn tại cùng nhà nước, từ đó đến nay thuế đã trải qua quá trình tồn tại và hoàn thiện lâu dài, đồng thời người ta cũng không ít các khái các khái niệm về thuế trên các góc độ khác nhau. Stiglitz (1trong những nhà kinh tế xuất sắc nhất thế giới) trong cuốn “tài chính công” cho rằng: “Thuế là 1 khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp cho công dân đóng góp cho Nhà nước trông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi phí của Nhà nước”. Đây là khái niệm cổ nhất và nổi tiếng nhất về thuế.
Thuế là một thực thể pháp lý nhân định nhưng sự ra đời và tồn tại của nó không chỉ phụ thuộc vào ý chí con người mà còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định. Ở khía cạnh nghiên cứu thuế với tư cách là một nội dung điều chỉnh của pháp luật các chuyên gia về luật thuế cũng nhận định “Thuế là một trật tự đã được thiết lập hòa bình giữa chính phủ với cộng đồng trong sự tôn trọng thực hiện nghĩa vụ thu nộp vào ngân sách,Thuế không có sự phân biệt đối xử nào với các bang hay vùng lãnh thổ”. Hiểu một cách chung nhất “Thuế là hình thức động viên bắt buộc của nhà nước theo luật định nhằm tập trung một bộ phận thu nhập của các cá thể nhân và pháp nhân vào Ngân sách nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cơ bản của nhà nước và phục vụ lợi ích cộng đồng”. Đặc điểm của thuế Thứ nhất, thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách: Vì không ai tự nguyện bỏ quyền lợi của mình để nộp thuế cho nhà nước.
Hơn nữa,để nhà nước tồn tại nguồn thu từ thuế phải thường xuyên, ổn định. Nếu tự 7 nguyện nộp thuế thì không thể thường xuyên và ổn định được. tính bắt buộc được thể hiện dưới hai khía cạnh sau: Đối với các cơ quan thu thuế: thu thuế là nghĩa vụ đối với cán bộ, cơ quan thu thuế. Cán bộ cơ quan thu thuế không được quyền lựa chọn đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, cắn cứ tính thuế… Khoản 1 Điều 8 Luật Quản lý Thuế quy định: Trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế là “Tổ chức thực hiện thu thuế theo quy định của pháp luật”.
Lấy pháp luật làm căn cứ duy nhất để thực hiện. Đối với người nộp thuế: Đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho nhà nước khi có đủ điều kiện do pháp luật quy định mà không phải quan hệ thanh toán trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng. Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự mình ấn định hay thỏa thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận. Những đối tượng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế.
Đây là điều khác biệt giữa thuế với các khoản đống góp mang tính chất tự nguyện. Thứ hai, thuế gắn liền với yếu tố quyền lực. Thuế do quốc hội lập ra dưới hình thức là một đạo luật - là hình thức văn bản có tính pháp lý cao nhất do cơ quan quyền lực cao nhất, cơ quan lập pháp đặt ra. Đây là một điểm giúp phân biệt thuế với các khoản phí, lệ phí.
Tuy cũng là các khoản thu có tính chất bắt buộc nhưng phí và lệ phí được thực hiện dựa theo các văn bản dưới luật. Có thể thấy, thuế và quyền lực nhà nước là hai phạm trù không thể tách rời: Nhà nước là chủ thể duy nhất đặt ra các khoản thuế và ngược lại thuế là phương tiện vật chất chủ yếu để duy trì quyền lực nhà nước. Bằng quyền lực chính trị nhà nước tạo ra cho thuế tính cố định, sự tuân thủ của đối tượng nộp thuế. Vì vậy, chỉ gắn với yếu tố quyền lực nhà nước, thuế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn thu tài chính cho nhà nước.
Theo quy định của pháp luật, thuế được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế Nhà nước có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính hoặc cưỡng chế hình sự (quy định tại điều 161 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009). 8 Qua đó nhà nước đã gián tiếp đảm bảo tính ổn định trong việc xác định nguồn thu nhập tài chính của nhà nước và đảm bảo tính ổn định của thuế. Thứ ba, thuế không mang tính hoàn trả dối trá, không hoàn trả trực tiếp. Thuế không phải là khoản phải trả phí khi các đối tượng nộp thuế đã nhận được một lơi ích hay quyền lợi cụ thể nào từ phía nhà nước.
Bất kì ai khi đủ điều kiện đều phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước, không phân biệt họ đã nhận được lợi ích công nào. Điều này cho phép phân biệt thuế với các khoản thu nộp do đối tượng nộp chỉ thực hiện nghĩa vụ của mình khi đã nhận được một lợi ích nhất định từ phái nhà nước. Đó là các khoản thu từ phí và lệ phí. Các thuế sắc áp dụng đối với hộ kinh doanh cá thể a) Thuế môn bài Trong hệ thống thuế nước ta thuế môn bài là 1 sắc thuế trực thu rất quen thuộc với quần chúng là thuế đăng kí kinh doanh tính theo năm mức thuế được áp dụng thao số tuyệt đối căn cứ vào loại hình doanh nghiệp.