Chương 1 giới thiệu tổng quát về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc của luận văn. Chương 2 trình bày tổng quan về các khái niệm, lý thuyết có liên quan đến FDI, PCI, lý thuyết chiết trung về lý do có FDI, lý thuyết hiệu quả kinh tế do quần tụ và tóm tắt kết quả các nghiên cứu trước về tác động của chất lượng thể chế đối với thu hút FDI. Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu, gồm khung phân tích, mô hình nghiên cứu thực nghiệm, cách thức thu thập dữ liệu, nguồn dữ liệu, trình bày mô hình hồi quy và lựa chọn phương pháp hồi quy phù hợp đối với mẫu nghiên cứu. Chương 4 trình bày chi tiết kết quả nghiên cứu, gồm: mối quan hệ giữa PCI và FDI của các tỉnh, thành trong giai đoạn nghiên cứu, bình luận và giải thích các kết quả nghiên cứu về tác động của các yếu tố PCI và các yếu tố khác đến việc thu hút FDI của các địa phương trong mẫu nghiên cứu.
6 Chương 5 nêu kết quả chính của nghiên cứu. Dựa trên mức độ tác động của các biến có ý nghĩa thống kê, tác giả gợi ý một số chính sách để thúc đẩy tác động cùng chiều, cải thiện các tác động ngược chiều, và nêu ra các hạn chế của nghiên cứu để gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Đầu tư Theo Sachs và Larrain (1993), đầu tư là phần sản lượng được tích lũy để tăng năng lực sản xuất trong thời kỳ sau của nền kinh tế, hay nói cách khác là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả lớn hơn trong tương lai. Ba tính năng phổ biến cho hầu hết các quyết định đầu tư là đầu tư đòi hỏi một khoản chi phí chìm - khoản chi không thể lấy lại, môi trường có sự không chắc chắn đang diễn ra trong khi thông tin đến dần dần và cuối cùng, cơ hội đầu tư thường không biến mất nếu không được thực hiện ngay (Dixit, 1992).
Từ định nghĩa trên có thể hiểu đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực quý giá hiện có vào một hay nhiều hoạt động nhất định nhằm thu lại lợi nhuận và/hoặc lợi ích kinh tế - xã hội. Các nguồn lực này được quy đổi về chung một giá trị biểu hiện bằng một đơn vị tiền tệ nhất định và gọi chung là vốn đầu tư, và các hoạt động này thường là hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng. Chủ thể thực hiện hoạt động đầu tư với mong đợi nhận được kết quả nhất định trong tương lai và kết quả này khi quy về giá trị tiền lớn hơn vốn đầu tư. Tuy nhiên, do kết quả của hoạt động đầu tư tùy thuộc rất nhiều nguyên nhân, nên đầu tư có thể mang lại lợi nhuận hoặc không mang lại lợi ích gì cả so với kỳ vọng ban đầu của nhà đầu tư; đồng thời, hoạt động đầu tư có tính rủi ro, mạo hiểm vì thường diễn ra trong một thời gian dài, nhà đầu tư không thể dự báo tất cả các khả năng có thể xảy ra, nhất là các rủi ro do thiên tai, dịch bệnh.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài được xem là một hoạt động đầu tư vào một DN hoạt động ở quốc gia/lãnh thổ khác với quốc gia của chủ đầu tư.
Mục đích của chủ đầu tư là thực sự có quyền quản lý DN và đạt được các lợi ích kinh tế trong thời gian dài (IMF, 1993). Dựa trên định nghĩa này, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) phát triển thêm các dạng của FDI như: thành lập một doanh nghiệp (DN) mới tại nước nhận đầu tư, mua lại toàn bộ một DN đang hoạt động tại quốc gia đó, 8 hoặc tham gia quản lý một DN bằng cách cấp tín dụng trên 5 năm, hoặc sở hữu từ 10% cổ phần biểu quyết trở lên (OECD, 2008). Tại Việt Nam, định nghĩa về đầu tư nước ngoài lần đầu tiên được đề cập tại Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, theo đó, đầu tư nước ngoài là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài. Đến năm 2014, đầu tư nước ngoài được định nghĩa là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành các hoạt động đầu tư (Luật đầu tư, 2014).
Luật đầu tư năm 2014 không định nghĩa cụ thể về FDI, đồng thời không quy định cụ thể về tỷ lệ sở hữu vốn của nhà đầu tư nước ngoài để DN được gọi là DN nước ngoài tại Việt Nam. Nhìn chung, kết quả lược khảo các tài liệu về FDI cho thấy, FDI là hoạt động đầu tư cần được quan tâm trong thời gian dài, phản ánh lợi ích trong dài hạn, thường là lợi nhuận, và quyền kiểm soát của một chủ thể ở nền kinh tế của quốc gia này đối với một DN tại nền kinh tế của quốc gia khác. Quyền kiểm soát thể hiện ở mức độ quản lý và sở hữu một số vốn nhất định tại DN đó.3 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Theo giới thiệu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), PCI là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh Provincial Competitiveness Index, có nghĩa tương ứng trong tiếng Việt là “Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh”. Chỉ số này thể hiện đánh giá của các DN đối với chất lượng quản lý kinh tế của chính quyền các tỉnh và xếp hạng chính quyền các tỉnh theo đánh giá đó.
PCI được xây dựng, điều chỉnh từ hợp tác nghiên cứu giữa VCCI và dự án Sáng kiến cạnh tranh Việt Nam do cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ - USAID tài trợ, thực hiện theo 3 bước: (1) Thu thập dữ liệu từ khảo sát DN và số liệu của các cơ quan, tổ chức liên quan, (2) Đo lường và tính toán các chỉ số thành phần, và (3) Kết hợp các chỉ số thành phần theo trọng số để tính PCI. Cách tiến hành từng bước như sau: 9 Bước 1. Thu thập dữ liệu: dữ liệu được thu thập từ 2 nguồn: (i) qua điều tra, khảo sát bằng thư đến gần mười ngàn DN tư nhân được lựa chọn ngẫu nghiên đang hoạt động trên 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam, trên cơ sở đảm bảo đại diện tương đối chính xác cho DN tại một tỉnh về lĩnh vực kinh doanh, loại hình DN, số năm hoạt động của DN; và (ii) qua các báo cáo đã được công bố chính thức của các cơ quan nhà nước cấp Bộ như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê, Tòa án nhân dân Tối cao và trang thông tin điện tử chính thức của các cơ quan quản lý nhà nước của các tỉnh, thành phố. Hai nguồn dữ liệu này đảm bảo tính khách quan cho kết quả đo lường.
Đo lường và tính toán các chỉ số thành phần: Các chỉ tiêu tại bước 1 được quy đổi về thang điểm 10. Địa phương có tiêu chí tốt nhất so với 62 tỉnh thành còn lại đạt điểm 10, tương ứng, địa phương có tiêu chí thấp nhất đạt điểm 1. Chỉ số thành phần được tính = 40% x trung bình các chỉ tiêu “cứng” (chỉ tiêu đã được các bộ, ngành công bố) + 60% x trung bình cộng các chỉ tiêu “mềm” (chỉ tiêu thu được qua khảo sát PCI). Kết hợp các chỉ số thành phần theo trọng số để tính PCI cho các địa phương: Tùy vào mức độ quan trọng, các chỉ số thành phần được nhân với trọng số tương ứng.
Trọng số của các chỉ số quan trọng từ 15% đến 20%, của chỉ số trung bình là 10% và của chỉ số có mức độ quan trọng thấp là 5%. Cụ thể: PCI = (chỉ số gia nhập thị trường x 5% + chỉ số Tiếp cận đất đai x 5% + chỉ số Tính minh bạch x 20% + Chỉ số Chi phí thời gian x 5% + chỉ số Chi phí không chính thức x 10% + chỉ số Cạnh tranh bình đẳng x 5% + chỉ số Tính năng động và tiên phong của chính quyền tỉnh x 5% + chỉ số dịch vụ hỗ trợ DN x 20% + chỉ số Đào tạo lao động x 20% + chỉ số Thiết chế pháp lý và An ninh trật tự x 5%) x 100.4 Nội dung các chỉ số thành phần của PCI Với lần điều chỉnh phương pháp luận gần nhất vào năm 2013, có 128 chỉ tiêu được sử dụng để đo lường 10 chỉ số thành phần của PCI (VCCI, 2016), cụ thể: 10 2.1 Chi phí gia nhập thị trường Chỉ số này đánh giá sự khác biệt về chi phí thành lập DN và đi vào hoạt động kinh doanh chính thức của DN giữa các tỉnh, bao gồm các chỉ tiêu: Số ngày thay đổi đăng ký doanh nghiệp; tỷ lệ DN phải chờ hơn 1 tháng/3 tháng để hoàn thành các thủ tục; tỷ lệ DN đăng ký thành lập DN qua phương thức mới (trực tuyến, thủ tục hành chính công, bưu điện) hoặc được ứng dụng tốt công nghệ thông tin; tỷ lệ các thủ tục (thay đổi) đăng ký DN được niêm yết công khai, được cán bộ hướng dẫn rõ ràng, đầy đủ, nhiệt tình, thân thiện, am hiểu chuyên môn.2 Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất Chỉ số này đo lường đánh giá của DN về mức độ dễ dàng khi tiếp cận đất đai và sự ổn định về mặt bằng kinh doanh. Các chỉ tiêu cụ thể gồm có: tỷ lệ DN có mặt bằng kinh doanh và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tỷ lệ DN gặp thuận lợi trong việc tiếp cận/mở rộng diện tích kinh doanh, thực hiện thủ tục hành chính (TTHC) về đất đai, hoặc gặp khó khăn do thiếu quỹ đất sạch, không được tiếp cận thuận lợi, nhanh chóng các thông tin về đất đai. Ngoài ra còn các chỉ tiêu: thời gian chờ để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; khả năng bị thu hồi đất; đánh giá mức độ bồi thường thỏa đáng nếu bị thu hồi đất hoặc tính hợp lý của khung giá đất thay đổi so với thay đổi giá thị trường; giải phóng mặt bằng chậm; tỷ lệ DN không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do lo ngại tiêu cực trong thực hiện các TTHC.