Chương 1: Giới thiệu: Trình bày một cách tổng thể nội dung của toàn bộ nghiên cứu. Chương này cho thấy lý do và vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế: Các lý thuyết cơ sở về vấn đề nghiên cứu, bao gồm các lý thuyết về chi tiêu công, tăng trưởng kinh tế, cũng như là tìm hiểu mối quan hệ lý thuyết giữa các thành phần này. Đồng thời trình bày tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài trong và ngoài nước.
Chương 3: Tổng quan chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp từ 1995 – 2020: Nội dung chương trình bày các số liệu thống kê cụ thể về chi tiêu công, các thành phần của chi tiêu công, các chỉ số đại diện cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh theo từng giai đoạn và từng năm cũng như qua đó cho thấy mối quan hệ về mặt thống kê giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế tại Đồng Tháp qua các năm từ 1995 – 2020. Chương 4: Thiết kế nghiên cứu và kết quả thực nghiệm: Chương này sẽ trình bày quy trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu căn cứ từ việc nghiên cứu lý thuyết. Nó còn bao gồm việc mô tả nguồn và cách lấy dữ liệu nghiên cứu và trình bày phương pháp, kỹ thuật ước lượng sẽ được sử dụng trong đề tài để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu. Nêu các kết quả phân tích dữ liệu bao gồm các phân tích thống kê mô tả, phân tích hồi quy cũng như là các kiểm định cần thiết.
Và cuối cùng là thảo luận về kết quả hồi quy của từng nhân tố chính. Mô tả các biến số, mô tả kết quả ước lượng của biến số, so sánh với giả thuyết nghiên cứu, lý giải. 5 Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách: Chương này đưa ra các kết luận sau khi phân tích thực nghiệm từ Chương 4. Căn cứ vào mục tiêu tổng quát, kế hoạch chỉ tiêu, phân tích những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức để đề xuất ra các giải pháp chủ yếu về chi tiêu ngân sách cùng các giải pháp khác nhằm giúp tăng trưởng kinh tế tỉnh Đồng Tháp.
6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHI TIÊU CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2. Chi tiêu công 2. Khái niệm Chi tiêu công là các khoản chi tiêu của các cấp chính quyền, các đơn vị quản lí hành chính, các đơn vị sự nghiệp được kiểm soát và tài trợ của chính phủ. Như vậy, chi tiêu công chủ yếu là các khoản chi của ngân sách nhà nước đã được quốc hội phê chuẩn.
Mankiw (2011) cho rằng mua sắm của chính phủ bao gồm các chi tiêu cho các hàng hóa và dịch vụ bởi chính quyền địa phương, tiểu bang và liên bang. Nó bao gồm tiền lương của những người làm khu vực chính phủ cũng như chi tiêu cho khu vực công. Chi tiêu công là các khoản chi tiêu từ ngân sách nhà nước và các quỹ tiền tệ khác của chính phủ nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính phủ. Đây là các khoản chi phí cho việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ công thông qua ngân sách và các quỹ tiền tệ do chính phủ quản lý (Lê Chi Mai, 2011).
Chi tiêu công phản ánh giá trị của các hàng hóa mà chính phủ mua vào để qua đó cung cấp các loại hàng hóa công cho xã hội nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước (Sử Đình Thành, 2009). Phân loại Barro và Sala-i-Martin (1995) đã chia các loại chi tiêu công vào 2 loại chính: § Chi phí sản xuất (dịch vụ công, quốc phòng, an ninh và an toàn quốc gia, giáo dục, y tế, nhà ở, bảo vệ môi trường) và chi tiêu tác động đến hiệu quả của khu vực tư nhân. § Chi phí phi sản xuất (văn hóa, giải trí và tôn giáo, bảo trợ xã hội, hoạt động kinh tế) – chi tiêu tác động đến lợi ích của công chúng, nhưng không thay đổi hiệu quả của khu vực tư nhân. 7 Theo Nghị định số 60/2003/NĐ–CP ngày 06/06/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước, chi tiêu chính phủ gồm: § Chi đầu tư phát triển § Chi thường xuyên § Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay.
§ Chi viện trợ của ngân sách trung ương cho các Chính phủ và tổ chức ngoài nước. § Chi cho vay của ngân sách trung ương. § Chi trả gốc và lãi các khoản huy động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 của Luật Ngân sách nhà nước. § Chi bổ sung Quỹ dự trữ tài chính theo quy định tại Điều 58 của Nghị định này.
§ Chi bổ sung ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. § Chi chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau. Phân loại chi tiêu công theo mục đích chi tiêu: Chi đầu tư phát triển: là quá trình nhà nước sử dụng một phần thu nhập từ quỹ NSNN và các quỹ ngoài ngân sách mà chủ yếu là quỹ NSNN cho việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội, phát triển sản xuất và dự trữ hàng hóa có tính chiến lược nhằm phục vụ các mục tiêu ổn định và tăng trưởng nền kinh tế. Đây là khoản chi khổng lồ, tạo động lực chủ yếu cho tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới.
Quy mô, kết cấu khoản chi này phụ thuộc vào mục tiêu và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ, thường tập trung vào 1 số lĩnh vực chủ yếu sau: § Chi đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng về kinh tế – xã hội công cộng: là khoản chi lớn trong chi đầu tư phát triển, bao gồm chi đầu tư xây dựng công trình mới trọng điểm, các công trình không có khả năng thu hồi vốn hoặc thu hồi vốn chậm như công trình giao thông, đê điều, bệnh viện, trường học, nhà văn hóa cần cải tạo nâng cấp …Việc đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng kinh tế công cộng phải góp phần thay đổi diện mạo, văn minh đô thị và tạo điều kiện mạnh mẽ cho các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế có động lực đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, thúc 8 đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế về số lượng, quy mô theo hướng hiện đại, có tính chất “mở đường” thu hút các nguồn vốn khác đầu tư cho mục tiêu công cộng. Đầu tư cho cơ sở hạ tầng xã hội thường hướng vào nguồn nhân lực, phát triển cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, bảo vệ môi trường. § Chi hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước, khoản chi được thực hiện bằng cách góp vốn cổ phần vào doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cần thiết, quan trọng và có quy mô lớn, giữ vai tròdẫn dắt nền kinh tế phát triển đúng theo mục tiêu của nhà nước. § Chi dự trữ nhà nước nhằm mục đích duy trì sự phát triển cân đối và ổn định của nền kinh tế.
Chi đầu tư phát triển có mức độ ưu tiên thấp hơn chi thường xuyên. Chi thường xuyên: là quá trình phân bổ và sử dụng thu nhập từ các quỹ tài chính công nhằm đảm bảo các hoạt động thường xuyên của nhà nước về quản lý kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh. Chi thường xuyên có phạm vi rộng, gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước, mang tính chất tiêu dùng, quy mô và cơ cấu chi thường xuyên phụ thuộc chủ yếu vào tổ chức bộ máy nhà nước. Gồm: § Chi cho các đơn vị sự nghiệp.
Đây là các khoản chi nhằm cung cấp các dịch vụ công về nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, tạo động lực để nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế theo chiều sâu cho các đơn vị sự nghiệp công lập. Cụ thể: Chi cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế, các tổ chức văn hóa – xã hội, nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, hoạt động giáo dục, đào tạo, sự nghiệp y tế, hoạt động văn hóa, thể dục thể thao nói chung, … § Chi cho các hoạt động quản lý nhà nước (chi quản lý hành chính): là các khoản chi cho hoạt động của hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương như hệ thống cơ quan quyền lực, cơ quan hành chính, cơ quan chuyên môn các cấp, viện kiểm sát và tòa án. Trong thời đại phát triển của xã 9 hội, các khoản chi quản lý hành chính ngoài việc có trách nhiệm duy trì hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước để cai trị mà còn phục vụ các mục đích xã hội. Hoạt động này nhằm bảo vệ, trợ cấp cho các công việc thuộc công tác an sinh xã hội, chẳng hạn hoạt động cấp phép, công chứng, hộ khẩu… § Chi cho hoạt động an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội.
Khoản chi cho an ninh nhằm đảm bảo trạng thái yên bình cho xã hội, tạo ra sự ổn định của nhà nước và môi trường sống an toàn cho người dân. Chi quốc phòng nhằm ngăn chặn mọi nguy cơ xâm lấn của các thế lực bên ngoài, giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. § Chi khác: bao gồm các khoản chi theo quy định của pháp luật không phát sinh đều đặn và liên tục theo thời gian nhưng vẫn thuộc về chi thường xuyên như chi trợ giá theo chính sách của nhà nước, chi trả lãi tiền vay do chính phủ vay, chi hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội… Mai Đình Lâm (2012) và Vũ Thị Ngọc Phùng (2005) đã khái quát các khoản chi dựa trên ngân sách trên địa bàn cấp huyện và cấp tỉnh thành ba mục lớn gồm: chi đầu tư phát triển bao gồm chi đầu tư phát triển và chi xây dựng cơ bản, chi thường xuyên các khoản cho giáo dục, y tế, an ninh quốc phòng, hành chính, sự nghiệp, lẫn khoa học - công nghệ, các khoản chi đạt mức cấp tỉnh khác bao gồm chi còn lại trừ các khoản chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới như: chi cho trả lãi gốc, các chương trình mục tiêu của địa phương; các khoản chi còn lại thuộc cấp huyện, ngoài chi thường xuyên và chi đầu tư.