Chương 1: Lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chương 2: Thực tra ̣ng năng lực ca ̣nh tranh của các doanh nghiê ̣p FDI ở tỉnh Hưng Yên. Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp FDI tại Hưng Yên và một số gợi ý để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nội địa của Tỉnh. -5- z Chƣơng 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm cơ bản về năng lực cạnh tranh của Do anh nghiêp̣ và sƣ ̣ cầ n thiế t nâng cao năng lƣc̣ ca ̣nh tranh. Khái niệm năng lƣ ̣c cạnh tranh 1.Các quan niệm về cạnh tranh Theo từ điển trực tuyến định nghĩa: Cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác. Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau như lĩnh vực kinh tế, thương mại, luật, chính trị, sinh thái, thể thao. Cạnh tranh có thể là giữa hai hay nhiều lực lượng, hệ thống, cá nhân, nhóm, loài, tùy theo nội dung mà thuật ngữ này được sử dụng.
Cạnh tranh có thể dẫn đến các kết quả khác nhau. Một vài kết quả, ví dụ như trong cạnh tranh về tài nguyên, nguồn sống hay lãnh thổ, có thể thúc đẩy sự phát triển về mặt sinh học, tiến hoá, vì chúng có cơ hội, được cung cấp lợi thế cho sự sống sót, tồn tại. Theo quan điểm triết học: Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cá thể có chung một môi trường sống đối với điều kiện nào đó mà các cá thể cùng quan tâm. Trong hoạt động kinh tế, đó là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, người tiêu dùng) nhằm giành lấy những vị thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất với nhau hoặc có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp. Theo quan điểm kinh tế chính trị: Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hoá nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc -6- z tiêu dùng hàng hoá để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng (Người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn, tốt hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ. Có các biện pháp cạnh tranh chủ yếu: cạnh tranh giá cả (giảm giá.) hoặc phi giá cả (quảng cáo.
Tóm lại: Có nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh, nó phụ thuộc vào phạm vi, đối tượng, và cách tiếp cận khái niệm: từ phạm vi vĩ mô đến phạm vi từng yếu tố, từ lĩnh vực kinh doanh đến lĩnh vực chính trị, xã hội,tự nhiên….Tuy nhiên ở đây chúng ta chỉ chú trọng đến khái niệm cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế. Trong lĩnh vực kinh tế thì cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sản xuất phát triển. Nó buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, tích cực nâng cao tay nghề, cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học kỹ thuật, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế. Đó chính là cạnh tranh lành mạnh.
Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ, kém phát triển. Bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh cũng có những tác dụng tiêu cực thể hiện ở cạnh tranh không lành mạnh như những hành động vi phạm đạo đức hay vi phạm pháp luật (buôn lậu, trốn thuế, tung tin phá hoại.) hoặc những hành vi cạnh tranh làm phân hoá giàu nghèo, tổn hại môi trường sinh thái. Khái niệm về năng lực cạnh tranh. Theo Fafchamps, sức cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường, có nghĩa là doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng tương tự như sản phẩm của doanh nghiệp khác nhưng có chi phí thấp hơn thì được coi là có năng lực cạnh tranh Một quan niệm khác cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi -7- z nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định” Theo PGS.Nguyễn Thị Quy, “năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh.” Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, được đo thông qua lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp, thể hiện qua chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Đồng thời năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện qua năng lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh [18, tr. Các quan niệm về các cấp độ năng lực cạnh tranh a) Năng lực cạnh tranh quốc gia Là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống người dân. b) Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước. Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiều sản phẩm dịch vụ.
Vì vậy, người ta còn phân biệt năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ. c) Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ được đo bằng thị phần của sản phẩm hay dịch vụ trên thị trường. Ba cấp độ năng lực cạnh tranh có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định và phụ thuộc lẫn nhau. Mỗi nền kinh tế có năng lực cạnh tranh thì phải có nhiều doanh nghiệp cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được đo thông qua lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp, thể hiện qua chiến lược kinh doanh của -8- z doanh nghiệp. Là tế bào của nền kinh tế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo cơ sở cho năng lực cạnh tranh quốc gia. Đồng thời, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện qua năng lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh. Doanh nghiệp có thể kinh doanh một hoặc một số sản phẩm dịch vụ có năng lực cạnh tranh.
Sƣ ̣ cầ n thiế t của viê ̣ c nâng cao năng lƣc̣ ca ̣nh tranh của các doanh nghiêp̣ trong quá trin ̀ h phát triể n kinh tế và hô ̣i nhâ ̣p Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp sẽ xác định nguyên nhân tại sao các công ty trong cùng một ngành nhưng lại có một số công ty thì thành công còn một số khác lại thất bại. Như là một quy luật đào thải tự nhiên, những doanh nghiệp nào không thích nghi được với cơ chế kinh doanh, không đủ năng lực cạnh tranh với các doanh nghiệp khác thì sẽ cầm chắc sự thất bại. Ngược lại, sự cạnh tranh lại giúp thúc đẩy sự phát triển của những doanh nghiệp có khả năng nắm bắt thời cơ, phát huy những thế mạnh của mình và hạn chế những bất lợi để giành thắng lợi trong cạnh tranh. Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế đã làm cho môi trường toàn cầu trở nên năng động hơn, bản chất của sự cạnh tranh giữa các quốc gia, các ngành và các doanh nghiệp cũng có sự thay đổi nhanh chóng: - Các doanh nghiệp giờ đây không còn cạnh tranh trong phạm vi một nước mà thậm chí khi hoạt động tại một quốc gia thì công ty cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh toàn cầu với nhiều các đối thủ mạnh hơn.
- Cạnh tranh dựa vào quy mô đã không còn có hiệu quả như trước đây, ngược lại những doanh nghiệp với quy mô nhỏ có sự linh hoạt và năng động hơn trước sự thay đổi của môi trường kinh doanh sẽ hoạt động mang lại hiệu quả hơn. - Nếu như trước đây các doanh nghiệp có thể cạnh tranh dựa vào các yếu tố công nghệ hiện đại, dựa vào khả năng tiếp cận với các nguồn vốn lớn hay nguồn nguyên vật liệu thì giờ đây toàn cầu hoá đã làm cho những yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh truyền thống của doanh nghiệp cũng phải thay đổi theo. -9- z - Ngày nay, các doanh nghiệp có xu hướng tạo ra lợi thế cạnh tranh của mình trên cơ sở nguồn nhân lực chiến lược, mang tính độc đáo, khó có khả năng bị sao chép như các yếu tố cạnh tranh khác. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sẽ giúp cho bản thân các doanh nghiệp trở nên tốt hơn, hoàn thiện hơn trong việc thực hiện các chức năng, vai trò của mình: phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng, kích thích sản xuất phát triển, v.v… Doanh nghiệp nào luôn hài lòng với vị thế đang có trên thương trường sẽ rơi vào tình trạng tụt hậu và sẽ bị đào thải với tốc độ nhanh không thể ngờ trong một thị trường toàn cầu luôn có sự biến động, thay đổi.
Ngược lại, những doanh nghiệp thường xuyên nâng cấp các lợi thế cạnh tranh theo thời gian thì những doanh nghiệp đó sẽ đạt được những lợi thế cạnh tranh lâu dài với những chiến lược kinh doanh của mình. Dù tất cả các công ty có làm bất cứ điều gì để tạo ra lợi thế đi nữa thì rồi nó cũng sẽ không còn là lợi thế.