CHƯƠNG 1 MỘT SỐ NHẬN THỨC CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VÀ THẤT THU THUẾ TNDN ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP 1. Một số nhận thức chung về doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm chung của doanh nghiệp Theo luật doanh nghiệp năm 2005 quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” Đặc điểm chung của các doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay được khái quát như sau: Thứ nhất: các doanh nghiệp ở Việt Nam chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ và chất chưa tương xứng với lượng. Hiện nay, ở nước ta có trên 80 % là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Các doanh nghiệp vẫn chưa thật sự chú trọng đầu tư vào mở rộng quy mô sản xuất- kinh doanh. Thứ hai: Trình độ nhân lực trong các doanh nghiệp còn hạn chế, giám đốc điều hành doanh nghiệp có tính chuyên biệt. Theo thống kê trình độ lao động Việt Nam còn thấp: Năm 2009 tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ chiếm 36,4% lực lượng lao động. So với các nước khác trên thế giới thì lao động ở nước ta chất lượng còn thấp.
Trong các doanh nghiệp hiện nay đang thiếu hụt trầm trọng nguồn lao động có kĩ năng tay nghề cao. Xuất phát từ đặc điểm này làm tăng chi phí cho lao động trong các doanh nghiệp như chi phí đào tạo lao động. Sau khi đào tạo thì thông thường có đến 35% lao động không ở lại doanh nghiệp làm việc nữa. Và so với trước kia thì hiện nay doanh nghiệp không còn lợi thế nhân công giá rẻ nữa.
Bên cạnh đó ngay đến trình độ của cấp quản lý cũng còn hạn chế. Theo kết quả điều tra thì có 43,3 % lãnh đạo Vũ Thị Anh 4 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính doanh nghiệp có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông, số chủ doanh nghiệp có trình độ từ thạc sỹ trở lên chiếm 2,99%. Có thể nói đa số chủ các doanh nghiệp chưa được đào tạo bài bản về kiến thức kinh doanh, kinh tế- Xã hội. Một thực trạng phổ biến là giám đốc điều hành doanh nghiệp đồng thời là chủ doanh nghiệp nên khó phát huy được vai trò quản lý.
Thứ ba: Việc áp dụng khoa học kĩ thuật của doanh nghiệp vào sản xuất, kinh doanh còn hạn chế. Hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới khoảng từ 2-3 thế hệ. Doanh nghiệp hầu như chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt, xu thế nhập khẩu và sử dụng công nghệ cũ vẫn gia tăng, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Thứ tư: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không cao.
Theo đánh giá thì năng lực cạnh tranh của các sản phẩm, dịch vụ mang thương hiệu Việt hiện nay còn yếu. Tham gia nền kinh tế thế giới là cơ hội cho các doanh nghiệp nhưng cũng là thách thức lớn. Ngay trong thị trường nội địa các doanh nghiệp đã thể hiện sự yếu kém trước các doanh nghiệp nước ngoài. Sản phẩm không đáp ứng đủ nhu cầu của người tiêu dùng về chất lượng và giá cả.
Đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam không ngừng thay đổi về chất và lượng để tồn tại và phát triển. Vị trí, vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Ngay tại các quốc gia phát triển trên thế giới như Hoa Kỳ, Nhật Bản., chính phủ các nước này cũng xác định vai trò quan trọng và lâu dài của khu vực doanh nghiệp bởi đây là bộ phận cấu thành không thể thiếu được của nền kinh tế, có mối quan hệ tương hỗ không thể tách rời nhau với các tập đoàn kinh tế, đặc biệt trong công nghiệp bổ trợ (supporting industries) và mạng lưới phân phối sản phẩm. Ở nước ta, đa phần các doanh nghiệp có quy mô vừa và Vũ Thị Anh 5 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính nhỏ nhưng thực tế đã chứng minh rằng hệ thống các doanh nghiệp ngày càng giữ vị trí không thể thiếu trong việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế. Ngày nay, bộ phận doanh nghiệp đang dần khẳng định vị trí quan trọng trong nền kinh tế.
Hoạt động của các doanh nghiệp đã có những phát triển đột biến trong những năm gần đây. Các doanh nghiệp góp phần phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển nền kinh tế xã hội, tăng thu cho NSNN, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội… Có thể nói sự phát triển của các doanh nghiệp không chỉ quyết định đến sự phát triển bền vững về mặt kinh tế mà còn quyết định đến sự ổn định của chính trị và lành mạnh hóa các vấn đề xã hội. Sự ra đời của các loại hình doanh nghiệp là yêu cầu khách quan và tất yếu của kinh tế. Thực tế đã chứng minh được doanh nghiệp là bộ phận quan trọng đóng góp vào sự phát triển của một quốc gia.
Hoạt động mạnh mẽ của các doanh nghiệp ngày nay có tác động lớn không chỉ cho nền kinh tế mà nó còn ảnh hưởng đến các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội. Có thể nói mỗi một doanh nghiệp như một tế bào của nền kinh tế, do vậy khu vực doanh nghiệp có vai trò to lớn đối với nền kinh tế thị trường hiện nay. Vai trò đó được cụ thể hóa như sau: Thứ nhất, Hoạt động hiệu quả của các doanh nghiệp giúp giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của nhân dân lao động. Trong những năm gần đây, việc hội nhập kinh tế quốc tế làm số lượng các doanh nghiệp tăng nhanh thu hút được nhiều lao động để phục vụ cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp.
Tính đến thời điểm 12/ 2011 số lượng doanh nghiệp đăng ký theo luật doanh nghiệp khoảng 622.977, tăng hơn 100 nghìn doanh nghiệp so với năm 2010 đã tạo ra nhiều việc làm cho người lao động. Thu nhập của người lao động trong xã hội cũng tăng. Theo Tổng cục thống kê: Tiền lương trung bình của người lao động trong năm 2011 là 3,84 triệu Vũ Thị Anh 6 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính đồng, tăng 19,6% so với năm 2010. Chất lượng lao động đang ngày càng được chú trọng và mức thu nhập ngày càng được nâng cao hơn.
Chính mức thu nhập cao ngày càng tăng của lao động trong khối doanh nghiệp góp phần cải thiện và nâng cao mức sống chung của toàn xã hội. Hơn thế nữa, theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam đang thu hút hơn 1/2 lực lượng lao động trong khu vực phi nông nghiệp. Cũng tương tự, ở các nước khác, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là một trong những nguồn tạo việc làm nhiều nhất và năng động nhất. Rõ ràng đây là một nhân tố quan trọng đối với người chưa có việc làm ở các khu đô thị hoặc những người sống ở các vùng nông thôn đang tìm kiếm việc làm, những lao động dôi ra qua việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước và những người làm nông nghiệp trong những lúc nông nhàn.
Các cơ hội tăng thêm việc làm sẽ mang lại lợi ích cho tất cả mọi người, kể cả những người đang thất nghiệp, phụ nữ và những người tàn tật. Thứ hai, Doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển là yếu tố quyết định đến tăng trưởng cao vào ổn định của nền kinh tế. Doanh nghiệp là bộ phận quan trọng chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước và thúc đẩy cho nền kinh tế phát triển: GDP năm 2011 tăng 5,89 % so với năm 2010. Lợi ích mà sự tăng trưởng của doanh nghiệp mang lai là tạo ra khối lượng hàng hóa và dịch vụ lớn hơn, phong phú hơn, chất lượng tốt hơn, thay thế cho nhiều mặt hàng xuất khẩu, góp phần quan trọng cải thiện và nâng cao mức tiêu dùng trong nước và tăng xuất khẩu.
Đây cũng là yếu tố giữ cho nền kinh tế ổn định phát triển trong những năm qua. Thứ ba, Doanh nghiệp phát triển tác động đến chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh tế quốc dân và trong mỗi ngành. Tuy các doanh nghiệp đa phần có quy mô vừa và nhỏ nhưng phát triển nhanh và rộng khắp trên tất cả các ngành và ở mọi địa phương trong cả nước. Loại hình kinh tế tập thể đang Vũ Thị Anh 7 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính được khôi phục và có bước phát triển mới.
Sự phát triển của doanh nghiệp thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu các ngành trong nền kinh tế. Thứ tư, Phát triển doanh nghiệp tác động đến giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội. Trong những năm gần đây, sản phẩm hàng hóa và dịch vụ do khối doanh nghiệp tạo ra ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loại mặt hàng đông thời chất lượng hàng hóa, dịch vụ được nâng lên. Do vậy đã giải quyết cơ bản nhu cầu tiêu dung hàng hóa dịch vụ ngày càng tăng của xã hội, góp phần nâng cao mức sống vật chất của dân cư và tăng nhanh lượng hàng hóa xuất khẩu.
Như vậy, doanh nghiệp là khu vực tạo ra nguồn thu lớn cho NSNN. Nguồn thu này tăng nhanh trong những năm qua là điều kiện để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển các hoạt động công cộng. Như vậy, có thể nói các doanh nghiệp đã và đang góp phần quan trọng trong việc thực hiện chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo mà Đảng và Nhà nước ta đang theo đuổi, đồng thời cũng đang phát huy vai trò tích cực trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ ở Việt Nam. Xã hội ngày càng phát triển, nền kinh tế ngày càng tăng trưởng thì hệ thống các doanh nghiệp càng giữ vị trí ngày càng quan trọng.
Nhưng để các doanh nghiệp này phát triển ổn định, hài hòa theo định hướng của Nhà nước thì cần phải áp dụng kết hợp nhiều biện pháp xử lý vĩ mô, trong đó quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNDN nói riêng là vấn đề rất được coi trọng.Xu hướng phát triển của các doanh nghiệp Kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm (2011- 2015) đang được thực hiện trong bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều khó khăn, thách thức. Theo dự báo, nền kinh tế giai đoạn này sẽ ra khỏi cuộc khủng hoảng, tiếp tục hồi phục và phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ khá hơn so với gian đoạn trước và nền kinh tế quốc tế có thể hồi phục dần.